Chương 1. GIỚI THUYẾT VỀ PHÁI TÍNH VÀ KHÁI LƯỢC VỀ NỮ TÍNH TRONG SÁNG TÁC VÕ THỊ HẢO 1. Giới thuyết về phái tính và văn học nữ giới 1. Giới thuyết về phái tính Chủ nghĩa nữ tính (feminism) cũng gọi là chủ nghĩa nữ quyền, nữ quyền luận vốn là danh từ dịch từ Nhật văn ra Trung văn.
Thật ra, từ thế kỉ XVIII do phong trào tự do lớn mạnh, người ta đã đưa ra vấn đề nam nữ bình đẳng và chủ nghĩa nữ tính tự do (liberal feminism). Một cách hiểu thông dụng nhất cho chủ nghĩa nữ quyền: “Nếu hiểu ở cấp độ rộng là quyền lợi của người phụ nữ trong thế tương quan với quyền lợi của nam giới để đạt đến cái gọi là nam nữ bình quyền. Ở cấp độ hẹp thì nữ quyền có mối liên quan với các khái niệm như giới tính, phái tính trong văn học” [41]. Chủ nghĩa nữ quyền xuất hiện là do sự bất bình đẳng về giới.
Vì nữ tính từ xưa đến nay, về chính trị thì bị áp bức, về xã hội thì bị chèn ép, về kinh tế thì cam chịu nghèo khổ, về văn hóa thì bị nam tính tước đoạt quyền lợi. Trong xã hội cũ, phụ nữ chỉ biết sống lệ thuộc, nương tựa vào đàn ông, chưa bao giờ được phát huy khả năng của mình, họ sống với bản năng của một người đàn bà chỉ biết sinh con đẻ cái, chăm lo cho gia đình và công việc. Một bản năng vừa hàm chứa cả hạnh phúc lẫn khổ đau. Chuyện tình yêu, chuyện hôn nhân, ngay cả những khoái cảm trong chuyện gối chăn cũng do người đàn ông thống ngự.
Tất cả những điều đó dẫn đến sự nổi dậy, đòi hỏi duy trì nữ quyền mà trong đó yếu tố lớn nhất là giải phóng về hôn nhân và quyền bình đẳng về giới, đòi lại sự công bằng cho phái nữ. Trong văn học thế giới, ngay từ thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, một làn sóng văn học nữ quyền ở Anh và Mĩ xuất hiện. Với sự ra đời của tập bút kí A Room Of One’s Own (Một căn phòng của riêng mình, 1929), Virginia Woolf được xem là một trong những cây bút đầu tiên chạm đến vấn đề nữ quyền trong văn học. Đây được coi là cuốn sách “vỡ lòng” của phê bình nữ quyền.
Nhờ Woolf mà các tác giả nữ ngày nay có những khái niệm gợi mở về cách suy nghĩ lùi thông qua người mẹ, về ý kiến của đàn bà, về tinh thần song giới. Làn sóng tiếp theo tương ứng với cao trào nữ quyền ở các nước phương Tây, mà đại diện là Simone de Beauvoir với tác phẩm Giới thứ hai (1949). Cuốn sách được xem là bản tuyên ngôn nữ quyền, một công trình lí luận triết học về phụ nữ, xuất phát từ quan điểm nam nữ bình quyền. Tác phẩm của Simone de Beauvior với lời khẳng định quyết liệt: “On ne nait pas femme, on le devient” (Người ta không sinh ra là phụ nữ, người ta trở thành phụ nữ) đã ảnh hưởng không nhỏ đến tư duy triết học, ngôn ngữ học, phân tâm học trước đó.
Bà cho rằng sự khác biệt sâu sắc của một số hiện tượng sinh lý ở nữ giới như có kinh nguyệt, thai nghén và sinh con không hề là nguyên nhân khiến cho người phụ nữ lệ thuộc vào đàn ông mà chính yếu tố văn hóa, đặc biệt là văn hóa nhận thức đã quyết định điều đó. Có thể nói, tác giả của Giới thứ hai đã nhìn nhận người phụ nữ dưới một cái nhìn mới, đó là những khu biệt thuộc về văn hóa chứ không phải tự nhiên. Sau sự ra đời của công trình Giới thứ hai của Simone de Beauvior vào năm 1949 thì ngay lập tức ở châu Âu đã có hàng trăm công trình nghiên cứu khoa học khác nhau bàn về nữ quyền xuất hiện (ví dụ như quyền được đi học, quyền được ly hôn, được làm chủ kinh tế, được tự do bầu cử và tham gia chính trường,…). Cuốn A handbook of Critical Approaches to Literature (1979) (Sổ tay các khuynh hướng tiếp cận phê bình văn học) của các tác giả Wilfred L.
Guerin, Earle Labor, Morgan do Nhà xuất bản Oxford ấn hành là công trình nghiên cứu được đánh giá cao. Công trình này đã tập trung trình bày cụ thể và chi tiết về khuynh hướng phê bình nữ quyền trên các khía cạnh: khái niệm phê bình nữ quyền, các khuynh hướng phê bình nữ quyền chủ yếu và mối quan hệ giữa phê bình nữ quyền và những nghiên cứu về giới,… Công trình nghiên cứu The New Feminist Criticism (1985) (Lý thuyết phê bình nữ quyền mới) của Elaine Showalter đã tập hợp hơn 300 bài tiểu luận và bài nghiên cứu có giá trị theo hướng phê bình nữ quyền ở Mỹ. Công trình nghiên cứu này được chia thành ba phần bao gồm: Phần một - Những mục tiêu mà các nhà phê bình nữ quyền muốn hướng đến: các vấn đề học thuật và điển phạm; Phần hai - Những khuynh hướng phê bình nữ quyền và nền văn hóa nữ giới; Phần ba - Sáng tác của các tác giả nữ và lý thuyết phê bình nữ quyền. Vào năm 1986, nhà nghiên cứu Robert Con Davis đã tuyển chọn những bài nghiên cứu quan trọng về các trường phái phê bình văn học hiện đại trong cuốn Contemporary Literary Criticism (Phê bình văn học đương đại), trong đó tác giả đưa những bài viết có nội dung nữ quyền vào phần “The sexual dialectic” (Biện chứng giới).
Cuốn The Bedford Glossary of Critical and Literary Terms (Từ điển thuật ngữ phê bình và thuật ngữ văn học) xuất bản năm 1990 và tái bản năm 2003 đã trình bày khá kỹ về khái niệm và các đặc trưng cơ bản của lý thuyết phê bình nữ quyền; so sánh phê bình nữ quyền với phê bình giới. Những năm gần đây, người ta bàn nhiều đến cuốn Feminism and Autobiography (Nữ quyền và tự truyện) do Tess Cosslett, Celia Lury và Penny Summerfield biên soạn được xuất bản lần đầu năm 2000 tại Anh, Mỹ và Canada. Đây là một công trình tiêu biểu cho một khía cạnh đang rất được quan tâm của phê bình nữ quyền, sưu tập, nghiên cứu những tác phẩm tự truyện (autobiography) của các nhà văn nữ. Sau đó, vào năm 2001, cuốn sách này đã được Nhà xuất bản Taylor and Francis đưa lên Thư viện điện tử ebook.com để bán bản mềm cho những người muốn tiếp cận tác phẩm.
Văn học nữ giới Quan niệm văn học nữ giới, văn học nữ quyền, phân biệt giữa văn học nữ quyền và văn học nữ giới là vấn đề khá phức tạp, tuy rằng nó không mới. Xung quanh vấn đề này, có nhiều vấn đề gây tranh cãi như: trong các sáng tác của nữ giới mang yếu tố nữ quyền hoặc là sáng tác của nhà văn nam về nữ giới phản ánh quyền giải phóng phụ nữ thì liệu có được xếp vào văn học nữ quyền hay không? Về khái niệm văn học nữ giới cho đến nay vẫn chưa đi đến thống nhất. Tuy nhiên, có thể tham khảo ý kiến của nhà nghiên cứu văn học Lưu Tư Khiêm (Trung Quốc) trong bài viết Văn học nữ tính (Phan Trọng Hậu lược dịch) trên báo Văn nghệ số ra ngày 14 tháng 1 năm 2006, ông cho rằng: “Văn học ra đời trong điều kiện lịch sử nhất định”; “Có nội hàm tinh thần nhân văn hiện đại, lấy nữ tính làm chủ thể ngôn từ, chủ thể trải nghiệm, chủ thể tư duy, chủ thể thẩm mỹ” [21, tr. Từ quan điểm này có thể thấy rằng, tác giả đặc biệt chú ý đến “chủ nghĩa nữ tính”, xem việc có mặt hay không có mặt “chủ thể nữ tính” là điều kiện tiên quyết cho việc xác định văn học nữ giới.
Văn học nữ giới, hiểu theo nghĩa rộng không bao hàm một thể loại nhất định như thơ ca, tiểu thuyết hay kịch mà là một loại văn bản tồn tại dưới nhiều dạng: viết bởi phụ nữ là chính, ngoài ra còn có những sáng tác nam giới về phụ nữ, nói về phụ nữ,…các dạng này không tồn tại riêng lẻ mà giao thoa với nhau trong các văn bản văn học, thể hiện tính đa dạng của văn học nữ giới. Khác với văn học nữ giới, văn học nữ quyền xuất hiện như một dòng văn học phản kháng, văn học dấn thân. Dòng văn học này chỉ được viết bởi phụ nữ. Văn học nữ quyền không tồn tại cách biệt với văn học nữ, nó nằm bên trong văn học nữ nhưng với một ý đồ đấu tranh bình đẳng giới rõ rệt hơn.
Văn học nữ quyền trên thế giới đã đi qua giai đoạn đỉnh cao của nó, với sự vinh danh của nhiều cây bút nữ như: S. Duras,…Các cây bút nữ đã thực sự mang đến cho những người phụ nữ một vị thế mới và tầm nhìn mới, tác động mạnh mẽ đến văn học trên thế giới, trong đó, có văn học đương đại Việt Nam. Quan niệm về văn học nữ giới và văn học nữ quyền là quá trình phát triển có sự phân hóa mạnh của sáng tác nữ giới về văn học. Giai đoạn đầu thường mô phỏng, hoặc chịu ảnh hưởng quan niệm sáng tác của các nhà văn nam giới.
Sau đó, các nhà văn nữ tìm cách xây dựng và khẳng định chỗ đứng của mình bằng thuyết nữ quyền xoay quanh trục trung tâm nữ giới đối lập với nam giới, cuối cùng hòa nhập thành bộ phận văn học trong đời sống, diện mạo của một nền văn học. Để phân định giữa văn học nữ giới và văn học nữ quyền, có nhiều ý kiến khác nhau. Chúng tôi xin đưa ra quan niệm của hai tác giả khá thuyết phục, đó là Giáo sư Wang Ninh chuyên gia ngành tiếng Anh và văn học so sánh, đồng thời là giám đốc Viện văn học so sánh và nghiên cứu văn hóa thuộc đại học Bắc Kinh: Văn học nữ là văn học do phụ nữ sáng tác, không quan tâm mang cảm thức nữ quyền hay không, còn văn học nữ quyền bao gồm các sáng tác có ý thức nữ quyền mạnh mẽ. Quan niệm thứ hai là của Elaine Showater, ông phân chia quan niệm văn học nữ tính, văn học nữ quyền và văn học nữ dựa trên ý thức nữ giới theo tiến trình lịch sử; quan niệm lịch sử phát triển ý thức hệ gắn với sự chuyển đổi trong ý thức về vai trò, vị trí của bản thân đối với xã hội của người phụ nữ: 1.
Giai đoạn văn học nữ tính: Giai đoạn văn học nữ phỏng mẫu văn học truyền thống của sáng tác nam quyền từ 1840 đến 1880. Giai đoạn văn học nữ quyền: Giai đoạn các nhà văn nữ đứng lên đấu tranh bênh vực cho các thành phần thiểu số bộc lộ tiếng nói phản ứng các giá trị truyền thống trong văn chương nam giới từ 1880 đến 1920.