CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Bài tập vật lí và vai trò của bài tập vật lí Bài tập vật lí được hiểu là một hay nhiều vấn đề được đặt ra đòi hỏi người đọc phải giải quyết những vấn đề đó theo tư duy logic, những phép toán và thực hành thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật và phương pháp vật lí. Hiểu theo nghĩa rộng thì khi học sinh nghiên cứu tài liệu giáo khoa hoặc một hiện tượng trong đời sống, mỗi một vấn đề xuất hiện cũng chính là một bài tập đối với học sinh. Trong quá trình dạy và học bộ môn vật lí, việc xây dựng và sử dụng các bài tập vật lí có một vai trò đặc biệt quan trọng tùy thuộc vào mục đích khác nhau của giáo viên.
Có thể kể đến những vai trò quan trọng của bài tập vật lí: - Sử dụng bài tập vật lí trong giảng dạy sẽ giúp cho học sinh lĩnh hội được kiến thức và khắc sâu kiến thức một cách dễ dàng hơn. Trong quá trình này, bài tập vật lí đóng vai trò là phương tiện nghiên cứu. - Giáo dục trong thời đại mới chú trọng việc ứng dụng kiến thức khoa học vào trong đời sống, học tập lý thuyết gắn liền với ứng dụng thực tiễn. Với mục tiêu này, bài tập vật lí đóng vai trò là phương tiện hữu ích trong việc rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức lý thuyết vào trong thực tế, học tập với đời sống.
- Trong quá trình giải bài tập vật lí, học sinh phải phân tích điều kiện đề bài, tự đưa ra những lập luận, tiến hành thực hiện các phép tính toán, các thí nghiệm, các phép đo để kiểm tra kết luận của mình. Thông qua quá trình đó, khả năng tư duy và phương pháp nghiên cứu khoa học của học sinh dần dần được hình thành một cách tự nhiên. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Để giải bài tập vật lí, học sinh phải nhớ lại các khái niệm, định luật, kiến thức đã học trong từng chương, phần. Điều này giúp học sinh ghi nhớ kiến thức một cách vững chắc và sâu sắc hơn.
Chính vì thế, bài tập vật lí đóng vai trò là phương tiện ôn tập, củng cố kiến thức đã học một cách hiệu quả và có tác dụng cao. - Bài tập vật lí còn góp phần rèn luyện đức tính cho học sinh như: tinh thần tự lập, tính cẩn thận, tính kiên trì và tinh thần vượt khó. - Bài tập vật lí có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng của học sinh. Từ đó giúp giáo viên thay đổi phương pháp giảng dạy để phù hợp với từng đối tượng học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy và học.
Phân loại bài tập vật lí Tùy vào phương tiện giải hay mức độ khó của bài tập mà có thể có các dạng bài tập khác nhau. Phân loại bài tập Vật lí 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bài tập trắc nghiệm khách quan Theo sơ đồ hình 1. Bài tập trắc nghiệm khách quan thuộc loại bài tập “Phân loại theo phương thức cho điều kiện và phương thức giải”.
Luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu về bài tập TNKQNLC về mặt lí thuyết. Đồng thời áp dụng cơ sở lý thuyết để xây dựng hệ thống bài tập TNKQNLC nhằm củng cố kiến thức chương “Chất khí” vật lí 10 THPT. Trước tiên cần tìm hiểu về cơ sở lí luận và thực tiễn của bài tập TNKQ. Lược sử hình thành và phát triển phương pháp trắc nghiệm * Trên thế giới: Vào thế kỉ thứ XVII – XVIII tại Châu Âu, các phương pháp trắc nghiệm đo lường thành quả học tập đầu tiên đã được sử dụng tuy chưa phổ biến.
Đến thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, người ta đã chú ý hơn đến việc sử dụng các phương pháp trắc nghiệm đo lường thành quả học tập. Năm 1904, Alfred Binet – nhà tâm lí học người Pháp đã xây dựng một số bài trắc nghiệm về trí thông minh khi nghiên cứu về những trẻ em bị mắc bệnh tâm thần. Đến năm 1916, các bài trắc nghiệm này đã được biên soạn và dịch sang tiếng Anh bởi Lewis Terman. Từ đó, người ta sử dụng tên Stanford – Binet để đặt cho phương pháp trắc nghiệm này.
Vào những cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, E. Thorm Dike đã đi tiên phong trong việc sử dụng hình thức TNKQ áp dụng vào môn số học và một số môn khác. Ông cho rằng đây là một phương tiện “khách quan và nhanh chóng” để đánh giá và khảo sát trình độ của học sinh. Trong những năm gần đây, TNKQ được sử dụng rất phổ biến và rộng rãi trong việc kiểm tra đánh giá kiến thức và năng lực của học sinh.
TNKQ được sử dụng như một hình thức kiểm tra kiến thức tổng quát của học sinh. Ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, TNKQ được sử dụng khá phổ biến ở một số môn học. * Ở Việt Nam: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việc ứng dụng phương pháp TNKQ ở Việt Nam đã được các tác giả sử dụng từ những năm 1960 ở một số ngành khoa học như ngành tâm lí học. Đến năm 1969, trường đại học Sài Gòn đã đưa lý thuyết về phương pháp TNKQ và thống kê để giảng dạy tại các lớp cao học và tiến sĩ giáo dục.
Và đến năm 1974, lần đầu tiên phương pháp TNKQ xuất hiện trong bài thi tú tài ở Miền Nam. [5] Cho đến nay, việc sử dụng phương pháp TNKQ đã trở nên rất phổ biến ở Việt Nam. Các tác giả là các nhà khoa học hay những giảng viên, giáo viên đã và đang sử dụng TNKQ như một hình thức thu thập thông tin người học một cách nhanh chóng và chính xác. Trong xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá của Bộ giáo dục và đào tạo, hình thức TNKQ được sử dụng rất phổ biến.
Một vài năm gần đây, các câu hỏi TNKQ được sử dụng trong đề thi tốt nghiệp THPT Quốc gia ở các môn học như: Lý, Hóa, Sinh, … Môn Tiếng Anh còn có những học phần thi bằng phương pháp trắc nghiệm. Một số tác giả đã sử dụng phương pháp TNKQ trong các đề tài nghiên cứu của mình như: “Bước đầu nghiên cứu nhận thức tâm lí của sinh viên đại học sư phạm” năm 1976 và “Vận dụng phương pháp test và phương pháp kiểm tra truyền thống trong dạy học tâm lí học” năm 1978 của tác giả Nguyễn Như An; “Test trong dạy học” của Nguyễn Hữu Long – cán bộ giảng dạy khoa tâm lí. Trong những năm gần đây, việc sử dụng TNKQ trong nghiên cứu và trong kiểm tra đánh giá đang được Bộ giáo dục chú trọng và phát triển. Đã có nhiều đợt tập huấn cho các cán bộ chủ chốt tại các trường ở các địa phương trên toàn quốc về việc hướng dẫn ra đề thi TNKQ, xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ.
Bắt đầu từ năm học 2007 – 2008, Bộ giáo dục đã sử dụng hệ thống bài tập TNKQ vào các đề thi của kỳ thi tốt nghiệp THPT Quốc gia, thậm chí là cả trong những đề thi đại học, các đề thi đánh giá năng lực đầu vào của các trường đại học trong nước nhằm đánh giá một cách khách quan và tổng quát kiến thức của học sinh. Những hành động đó đủ để cho thấy tầm quan trọng và tính ứng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dụng cao của hệ thống bài tập TNKQ trong bối cảnh chung của nền giáo dục tại Việt Nam hiện nay. Trong nhà trường, hệ thống bài tập TNKQ đã và đang được đưa vào sử dụng để giảng dạy và kiểm tra đánh giá nhằm giúp học sinh làm quen với dạng bài tập này. Có thể thấy ở hầu hết các môn học tại trường phổ thông hiện nay đều có sự xuất hiện của dạng bài tập này.
Từ các bài kiểm tra định kì, thường xuyên đến các đề thi học kì và các bài khảo sát đều có sử dụng dạng bài tập TNKQ. Ngoài ra, hệ thống bài tập TNKQ giúp nhà giáo dục dễ dàng đánh giá được năng lực của theo các cấp độ nhận thức của người học. Khái niệm về trắc nghiệm Theo Dương Thiệu Tống thì trắc nghiệm được hiểu là một cách thức đo lường một mẫu nào đó với mục đích so sánh các thành tựu cá nhân của người này với người khác hoặc khi sử dụng để so sánh giữa các nhiệm vụ hoặc lĩnh vực được dự kiến trước. [5] Theo tác giả Trần Bá Hoành thì trắc nghiệm được hiểu là một cách thức thăm dò đặc biệt đối với các thuộc tính về năng lực và lĩnh vực trí tuệ của một học sinh (ví dụ như trí nhớ, sự chú ý, sự thông minh và trí tưởng tượng của học sinh) hoặc là cách thức để kiểm tra kiến thức, các kĩ năng trong một chương nhất định hoặc các kĩ xảo trong chương đó.
[5] Như vậy, có thể nói trắc nghiệm là một hình thức sử dụng các công cụ hoặc phương thức đánh giá đặc biệt nào đó để đo lường kết quả của người học. Từ đó người đánh giá có cái nhìn tổng quan và trung thực về kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của người học. Giới thiệu chung về trắc nghiệm khác quan Trắc nghiệm khách quan là một hình thức dùng để ước lượng và đánh giá một cách cụ thể các mức độ khác nhau của một người nào đó đối với khả năng thể hiện hành vi trong lĩnh vực nhất định. Có ba loại: được minh hoạ qua sơ đồ dưới đây [5] 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Sơ đồ minh học các loại phương pháp TNKQ Trong 3 phương pháp trên, phương pháp trắc nghiệm viết thường được sử dụng nhiều nhất vì một số ưu điểm sau: - Có thể cùng lúc kiểm tra được nhiều học sinh trong một lần thi. - Cho ra một bảng kết quả rõ ràng, có giá trị cao cho việc đánh giá và thống kê. - Quản lý dễ dàng hơn và không bị chi phối bởi người chấm. Các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan - Câu mở: Thông thường dạng câu hỏi này được dúng trong trường hợp kiểm tra kiến thức của học sinh ở mức độ thấp nhất (học sinh chỉ cần nhớ lại kiến thức đã học là có thể hoàn thành nội dung câu hỏi) - Câu điền khuyết (Hay còn được gọi là câu hỏi điền vào chỗ trống): Dạng câu hỏi này được ra với hình thức đề ra cho học sinh một câu hỏi trực tiếp hoặc một nhận định nào đó chưa đầy đủ về mặt ý nghĩa hoặc kiến thức 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khoa học.
Dạng này cũng yêu cầu người học phải nhớ lại kiến thức và trả lời bằng một hay một số từ.