CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về Hepatitis B Virus 1. Cấu trúc HBV 1. Hình thái Virus viêm gan B là một loại virus hướng gan có vật chất di truyền là DNA thuộc họ Hepadnaviridae virus [4, 36].
Trong huyết thanh của bệnh nhân ở giai đoạn virus đang tái bản, có thể quan sát thấy ba kiểu cấu trúc bao gồm: hình cầu, hình ống và hạt dane hoàn chỉnh [36]. Cấu trúc hình cầu có đường kính 20 nm. Cấu trúc hình ống có chiều rộng 22 nm và chiều dài thay đổi. Những dạng này được cấu tạo bởi kháng nguyên bề mặt (HBsAg) và lipit có nguồn gốc từ vật chủ, không chứa axit nucleic của virus do đó không có khả năng lây nhiễm [18].
Hạt dane có đường kính 42 nm gồm lớp vỏ lipid và HBsAg bao quanh một nucleocapsid chứa hệ gen của virus và polymerase sẽ giúp virus nhân lên trong cơ thể vật chủ [29].1: Hình ảnh dưới kính hiển vi tử và số lượng gần đúng của các thành phần liên quan đến HBV trong 1 ml huyết thanh bệnh nhân mang HBV mãn tính [19]. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hệ gen Hệ gen của HBV là phân tử DNA dạng vòng chiều dài khoảng 3200 nucleotide (3.2 kb) có dạng xoắn kép không hoàn toàn gồm hai sợi đơn có chiều dài khác nhau. Sợi ngoài (sợi âm) có chiều dài cố định là 3.2 kb và gắn một gốc tyrosine của protein P tại đầu 5’.
Hệ gen của virus mã hóa cho 4 khung đọc mở (Open Reading Frames-ORF) là S, C, P và X nằm gối lên nhau [36]: - Khung đọc mở S mã hóa cho protein bề mặt virus (HBsAg) được chia thành 3 vùng preS1, preS2 và S nhờ ba codon khởi đầu khác nhau [48]. HBgAg được chia làm 3 loại: L-HBsAg là thành phần chính của thụ thể được dịch mã từ mRNA preS1; protein M và S-HBsAg được dịch mã từ mRNA preS2/S và mRNA preS [13]. - Khung đọc mở C mã hóa cho kháng nguyên lõi (HBcAg) hoặc kháng nguyên e (HBeAg) hỗ trợ đóng gói cấu trúc genome tùy thuộc vào vị trí bắt đầu dịch mã. - Khung đọc mở X mã hóa cho protein HBxAg.
Protein HBx có vai trò trong nhân bản HBV bao gồm tín hiệu kích hoạt phiên mã, sửa chữa DNA và ức chế quá trình phân hủy protein [15]. - Khung đọc mở P mã hóa cho polymerase là một protein lớn được chia thành 4 domain: terminal protein domain (đóng vai trò như mồi tổng hợp DNA virus), spacer domain (chưa rõ vai trò), reverse transcriptase domain (chịu trách nhiệm cho phiên mã và nhân bản RNA virus) và RNAase H domain (phân hủy RNA tiền gen). Trong đó, RNA tiền gen đóng vai trò là khuôn tổng hợp DNA virus thông qua quá trình phiên mã ngược [29]. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2: Cấu trúc hệ gen của HBV [44].
Cơ chế xâm nhiễm của HBV Quá trình xâm nhập của HBV vào tế bào gan của vật chủ được bắt đầu bằng tương tác không đặc hiệu giữa vùng preS1 của protein L-HBsAg với bề mặt tế bào gan hoặc đặc hiệu với thụ thể NTCP [54]. Sau khi xâm nhập vào tế bào, virus di chuyển nhờ hệ thống vi ống đến phức hệ màng nhân. Tại đây, virus sẽ bỏ lớp vỏ capsid giải phóng DNA vào trong nhân [31]. Trong nhân tế bào gan, DNA của sợi dương được tổng hợp hoàn chỉnh.
Sau đó, các sợi sẽ co xoắn lại cùng với protein histon tạo thành phân tử cccDNA (covalently closed circular DNA) có dạng nhiễm sắc thể mini, đóng vai trò phiên mã tổng hợp mRNA của virus [43]. Đoạn dài nhất 3.5 kb mã hóa protein lõi, tiền lõi và polymerase.4 kb mã hoá cho protein L- HBsAg, trong khi đoạn 2.1 kb mã hoá protein M và S-HBsAg. Đoạn nhỏ nhất 0.7 kb mã hoá protein X [39]. Cấu tạo bền vững của phân tử cccDNA tạo nên tính kháng thuốc của HBV.
Khi cccDNA còn ổn định ở trong tế bào, nó sẽ làm khuôn mẫu cho tất cả các mRNA virus. Do đó, cccDNA là nguồn tạo các thế hệ virus mới [13, 23]. Các mRNA được phiên mã từ cccDNA sẽ được vận chuyển ra bào tương, làm khuôn cho quá trình dịch mã tổng hợp polymerase, vỏ capsid, protein bề mặt và protein X. Trong khi nucleocapsid được lắp ráp trong bào tương, RNA tiền gen kết 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hợp cùng polymerase khởi động quá trình phiên mã ngược.
RNA tiền gen đóng vài trò làm khuôn cho quá trình tổng hợp DNA sợi âm. Sau khi tổng hợp xong sợi âm, RNA tiền gen bị phân cắt bởi RNase. Sợi âm được sử dụng làm khuôn tổng hợp sợi dương. Quá trình tổng hợp sợi dương hiếm khi hoàn thành nên thường bắt gặp sợi dương có độ dài khác nhau trong virus HBV [13, 54].
Một số virus mang bộ gen hoàn chỉnh sẽ quay trở lại nhân tế bào gan và DNA mới được tổng hợp sẽ lại chuyển dạng cccDNA để duy trì một lượng khuôn ổn định cho quá trình phiên mã. Số virus còn lại sẽ đi vào hệ thống lưới nội chất chứa các protein bề mặt của virus thông qua hình thức “nảy chồi”. Bằng cách này các “lõi” virus sẽ bọc bởi các kháng nguyên bề mặt tạo ra cấu trúc virus hoàn chỉnh và thoát khỏi tế bào gan đi vào hệ thống tuần hoàn [17].3: Quá trình xâm nhiễm của HBV [17]. HBV gắn kết với thụ thể trên bề mặt và xâm nhập vào tế bào.
Sau đó, HBV di chuyển tới nhân và chuyển dạng thành cccDNA làm khuôn để tổng hợp mRNA; mRNA được dịch mã để tổng hợp protein bề mặt virus, lõi, polymerase và protein X; mRNA này tiếp tục tham gia vào quá trình phiên mã ngược thành DNA virus kết hợp với capsid tạo thành hạt virus, các hạt virus này hoặc di chuyển vào mạng lưới nội chất hoặc quay lại nhân tế bào gan. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phân loại Dựa vào cấu trúc hệ gen, HBV được chia làm nhiều kiểu gen (genotypes). Trước đây, có 8 genotypes đã được biết rõ (A-H).
Theo các nghiên cứu gần đây, 2 genotypes khác được xác định là I và J. Một vài genotypes của HBV được phân chia thành dưới kiểu gen (sub-genotypes). Trong phân loại, các genotype có trình tự khác nhau hơn 8%, các sub-genotype trong cùng một genotype khác nhau 4-8% [52]. Hiện nay, hơn 30 sub-genotype của HBV đã được xác định, nhưng các cơ chế gây bệnh khác nhau giữa chúng chưa được rõ ràng.
Có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng sự khác biệt giữa genotypes và sub-genotypes phụ thuộc vào phân bố địa lý và liên quan đến sự tiến triển của bệnh, tiến triển lâm sàng và khả năng đáp ứng điều trị [12]. Genotypes A, B, C, D và F được chia thành nhiều sub-genotype và genotypes E, G và H không có sub-genotype nào được xác định [28, 42]. Genotype A phổ biến ở vùng cận Sahara-Châu Phi, Bắc Âu và Tây Phi. Genotype B và C xuất hiện phổ biết ở Châu Á.
Genotype C chủ yếu quan sát thấy ở Đông Nam Á. Genotype D chiếm ưu thế ở Châu Phi, Châu Âu, các nước Địa Trung Hải và Ấn Độ. Genotype G được báo cáo ở Pháp, Đức và Hoa Kỳ. Genotype H thường gặp ở Trung và Nam Mỹ.
Genotype I gần đây được tìm thấy ở Việt Nam và Lào. Genotype HBV mới nhất là genotype J được xác định ở quần đảo Ryukyu của Nhật Bản [35]. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4: Phân bố địa lý về genotypes của HBV trên thế giới [35]. Các con số bên cạnh các biểu đồ hình tròn là số lượng mẫu kiểm tra.
Kích thước của biểu đồ hình tròn đã được điều chỉnh sao để hiển thị rõ các phần trong biểu đồ [34]. Các kiểu gen có thể liên quan đến một số thể đột biến trên khung đọc mở C. Do đó, chúng có thể dẫn đến sự khác nhau về diễn biến tiền lâm sàng cũng như về tỷ lệ viêm gan tối cấp giữa các nhóm kiểu gen khác nhau. Ví dụ: kiểu gen B và đặc biệt dưới kiểu gen Bj khiến người bệnh dễ mắc viêm gan tối cấp nhiều hơn so với kiểu gen A hoặc C [10].
Dịch tễ học của viêm gan B 1. Tình hình mắc viêm gan B trên thế giới và ở Việt Nam Dựa vào sự có mặt của kháng nguyên bề mặt HBsAg, tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính trong năm 2015 trên toàn thế giới có khoảng 257 triệu người đang bị nhiễm HBV và khoảng 887,000 ca tử vong do HBV, chủ yếu từ các biến chứng bao gồm xơ gan và ung thư gan [58]. Dựa trên tỉ lệ nhiễm HBV, các vùng trên thế giới được xếp vào các mức độ nhiễm cao, trung bình và thấp (Hình 1. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.5: Phân bố tỷ lệ người nhiễm HBV theo địa lý [57].
Vùng lưu hành dịch cao: là vùng có tỷ lệ người mang HBsAg ≥8% và người đã từng phơi nhiễm với HBV >60%. Khoảng 45% dân số thế giới sống ở khu vực dịch tễ này, bao gồm các nước Châu Á, Châu Phi, một phần Trung Đông, lưu vực sông Amazon [45]. Vùng lưu hành dịch trung bình: là vùng có tỷ lệ người mang HBsAg từ 2-7% và tỷ lệ người đã từng phơi nhiễm với HBV từ 20-60%, bao gồm một phần Nam Âu, Đông Âu, Nga và Nam-Trung Mỹ [47]. Vùng lưu hành dịch thấp: là vùng có tỷ lệ người mang HBsAg <2% và tỷ lệ người từng phơi nhiễm với HBV <20%, bao gồm Mỹ, Tây Âu, Úc với khoảng 12% dân số thế giới sống ở vùng này [58].
Việt Nam là nước có tỷ lệ mắc viêm gan B cao trong đó ước tính có khoảng 8,6 triệu người nhiễm HBV. Tỷ lệ nhiễm HBV mãn tính được ước tính khoảng 8,8% ở phụ nữ và 12,3% ở nam giới. Người nhiễm HBV mãn tính thường không có các biểu hiện rõ ràng làm người bệnh thường có tâm lý chủ quan. Do đó, ở Việt Nam, nhiễm HBV mãn tính là nguyên nhân chính gây xơ gan và ung thư gan.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phương thức lây truyền HBV lây truyền khi các tổn thương trên bề mặt da và niêm mạc tiếp xúc với dịch tiết hoặc máu của người đã nhiễm virus. HBV có hàm lượng lớn trong máu và dịch tiết từ vết thương. Lượng virus được phát hiện thấp hơn trong tinh dịch, dịch tiết âm đạo và có rất ít trong nước bọt.
HBV không lây truyền qua không khí và đồ ăn [57]. Các con đường lây truyền chính của virus như sau: - Lây truyền từ mẹ sang con có thể xảy ra quanh lúc chuyển dạ sinh. Lây truyền trong tử cung ít gặp, chỉ xảy ra từ 2-5% số lây truyền từ mẹ sang con. Không có bằng chứng cho thấy virus có thể lây truyền qua việc cho con bú.