chương 1 sẽ khảo sát chung về một số vấn đề có liên quan và một số quan điểm về nội hàm của khái niệm “Vốn xã hội” trước khi ứng dụng chúng vào những chương tiếp theo 1.1 Thuật ngữ “Vốn xã hội” : Lòng tin và Mạng lƣới Thuật ngữ “Vốn xã hội” được ghép từ hai từ “Vốn” và “Xã hội”.1 thể hiện các ý nghĩa mà hai từ này được biểu đạt được khi đứng độc lập. Trước khi đi đến với những nỗ lực khái niệm hóa “Vốn xã hội” thành thuật ngữ chuyên ngành với nội hàm xác định, từ bảng 1.1, có thể nhận ra nhiều phương án phối hợp từ hai yếu tố trên để tạo thành các cách hiểu (nội dung) khác nhau về “Vốn xã hội”, ví dụ: a. Toàn bộ (nguồn vốn) tài sản vật chất mà loài người tương ứng với một trình độ phát triển nhất định của loài người. Toàn bộ những gì sẵn có, bao gồm cả vật chất và phi vật chất - hữu hình và phi hữu hình, tương ứng với một trình độ phát triển nhất định của loài người.
Nguồn vốn – toàn bộ những gì sẵn có, bao gồm cả vật chất và phi vật chất – hữu hình và phi hữu hình, tương ứng với một xã hội (ở nhiều quy mô và hình thức khác nhau: khu vực, quốc gia, vùng miền, tỉnh thành, làng xã…; tầng lớp, giai cấp, hội nhóm… ) ở một thời điểm (thời kỳ lịch sử) nhất định. Tổng thể nói chung những tài 1. Hình thức sinh hoạt chung có tổ sản bỏ ra lúc đầu, thƣờng biểu chức của loài ngƣời ở một trình độ hiện bằng tiền dùng trong sản xuất phát triển nhất định của lịch sử, xây kinh doanh, nói chung trong hoạt dựng trên cơ sở một phƣơng thức động sinh lợi. Chung vốn mở một sản xuất nhất định.
Xã hội phong cửa hàng. Đi buôn lỗ vốn. Quy luật phát (bán với giá vốn, giá mua vào, không triển của xã hội. Đông đảo những ngƣời cùng sống 2.
Tổng thể nói chung những gì sẵn trong một thời (nói tổng quát). Dư có hay tích lũy đƣợc, dùng trong luận xã hội. Trong gia đình, ngoài xã một lĩnh vực hoạt động nào đó, nói hội. Làm công tác xã hội.
về mặt là cần thiết để hoạt động có 3. Tập hợp ngƣời hiệu quả. Vốn kiến thức sâu rộng. có địa vị kinh tế - chính trị nhƣ nha; Vốn từ ngữ của một nhà văn.
Người tầng lớp. Xã hội thượng lưu là vốn quý nhất.1: Các ý nghĩa của “vốn” và “xã hội” khi đứng độc lập [16, tr.1428;1445] Các phương án a, b và c đã nêu trên được hiểu trong sự mặc định chủ thể là (toàn thể) “xã hội”. Trong trường hợp “cụ thể hóa” các nội dung bằng cách xoay chủ thể về “con người” – (các) “cá nhân” thì nhiều phương án khác có thể được xét đến, ví dụ: d. Nguồn vốn, bao gồm cả vật chất – phi vật chất và hữu hình – phi hữu hình, mà một cá nhân tích lũy được trong quá trình xã hội hóa.
Chú ý là khái niệm xã hội hóa ở đây mang ý nghĩa quá trình một cá nhân trưởng thành và hòa nhập vào xã hội 13 e. Tổng thể những gì có sẵn, bao gồm cả vật chất – phi vật chất và hữu hình – phi hữu hình, mà một cá nhân được thụ hưởng (và phải chấp nhận), khi là thành viên của một xã hội nào đó. Những ví dụ nêu trên cho thấy một “biên độ co dãn” rất lớn trong các ý nghĩa mà hai yếu tố “vốn” và “xã hội” có thể biểu đạt, dẫn đến tính đa – chiều – kích của thuật ngữ “vốn xã hội”. Ở cách hiểu đơn giản và phổ biến nhất, có thể hiểu vốn xã hội là mạng lưới những mối quan hệ của một cá nhân; ở quy mô lớn nhất, có hiểu vốn xã hội là toàn bộ thực tại đang hiện hữu.
Trong tiếng Anh, từ điển Oxford có một từ mục riêng cho “Social Capital”: social capital (noun) [uncountable] The networks of relationships among people who live and work in a particular society that enable the society to exist and be successful Building social capital requires trust and participation among individuals. The middle-class kid, whose dad knows the company director, is said to have more social capital. Corporations transform social capital into economic capital [50, tr.38] Tạm dịch: (những) mạng lưới (những) mối quan hệ giữa những người đang sống và làm việc ở một xã hội nhất định mà cho phép xã hội đó có thể tồn tại và phát triển. Trong cách giải nghĩa này, ta thấy rõ cơ sở cho “Vốn xã hội” - “Social Capital” chính là mạng lưới mối quan hệ, đồng thời, thuật ngữ cũng nhấn mạnh về tầm quan trọng mạng lưới quan hệ trong việc duy trì xã hội.
Cách hiểu này sẽ được thể hiện rõ hơn khi quan sát kỹ cách chuyển ngữ thuật ngữ “Capital”, mặc dù trong tiếng Việt được dịch là “Vốn”, nhưng thực chất mang ý nghĩa là “Tư bản” bởi thuật ngữ “Tư bản”, ngoài các phần có thể lượng hóa, thì còn hàm chứa yêu tố mối quan hệ ở trong đó. Một trong những 14 cách định nghĩa phổ biến được biết đến là của Karl Marx thì tư bản không (chỉ) là tiền, không chỉ là máy móc, công cụ, nguyên liệu, hàng hóa, mà là quan hệ lao động sản xuất của xã hội. Nói cách khác, tư bản (capital) chính là mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội (social relation) hay chính là nhân tố chi phối mạng lưới xã hội. Những mối quan hệ tạo thành mạng lưới xã hội.
Cơ sở cho những mối quan hệ chính là lòng tin, niềm tin, sự tín nhiệm hay sự tin cậy. Có thể hiểu, lòng tin chính là điểm tựa cho những mối quan hệ, dù là ở kích cỡ bé nhất là mối quan hệ giữa hai cá nhân hay ở những quy mô lớn như mối quan hệ giữa các thành viên của một cộng đồng, những công dân của một quốc gia hay của toàn thể thế giới loài người với nhau. Trong bản báo cáo của OECD đã nêu rõ: “Ta có thể xem xét sự tin cậy vừa là nguồn gốc của vốn xã hội vừa là kết quả của loại vốn này. Như một giá trị thay thế rất gần với các chuẩn mực, niềm tin và giá trị làm nền tảng cho sự hợp tác xã hội” [27, tr.
Lòng tin là điểm tựa cho những mối quan hệ, vậy những gì sẽ là điểm tựa cho lòng tin ? Lòng tin Các mạng lưới quan hệ Vốn xã hội Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa lòng tin và vốn xã hội. Nguồn: Tác giả tổng hợp 15 Những nhân tố là điểm tựa cho niềm tin để tạo thành các mạng lưới, như trong định nghĩa của khái niệm “social capital” đã nêu lên, sẽ là cơ sở cho phép xã hội có thể tồn tại và phát triển. Đồng thời, việc lựa chọn quy mô, mô tả và nhấn mạnh những nhân tố đó cũng chính là quá trình hình thành nên những quan điểm khác nhau về khái niệm này. Điều này có thể được nhìn thấy qua những thảo luận trong và ngoài nước.2 Một số quan điểm phổ biến về khái niệm vốn xã hội 1.1 Quan điểm của Pierre Bourdieu Nhà xã hội học người Pháp – Pierre Bourdieu có thể được xem là người đầu tiên đưa ra định nghĩa về khái niệm Vốn xã hội một cách có hệ thống.
Trong các tác phẩm xuất bản vào tập niên 80, ông đã nhấn mạnh rằng, ngoài vốn kinh tế (capital economique), cần thiết phải phân biệt và ghi nhận thêm 03 loại vốn khác là vốn văn hóa (capital culturel), vốn biểu tượng (capital symbolique) và vốn xã hội (capital social). Theo quan điểm của ông, vốn xã hội là một „„mạng lưới lâu bền bao gồm các mối quan hệ quen biết nhau và nhận ra nhau, (các mối liên hệ này) ít nhiều được định chế hóa‟‟ [29, tr. Pierre Bourdieu coi vốn xã hội là mạng lưới quan hệ và với một cá nhân thì „„khối lượng vốn xã hội của một tác nhân cụ thể nào đó phụ thuộc vào mức độ liên hệ rộng hay hẹp mà anh ta có thể huy động được trong thực tế, đồng thời cũng phụ thuộc vào khối lượng của vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn biểu tượng‟‟[32, tr.121] 16 Vốn kinh tế Vốn văn Cá Vốn xã hóa hội nhân Vốn biểu tượng Sơ đồ 1.2: Vốn xã hội theo quan điểm của Pierre Bourdieu. Nguồn: Tác giả tổng hợp Như vậy, đối với một cá nhân thì các loại vốn không hề tồn tại độc lập mà có thể chuyển hóa qua nhau.
Điều này khá dễ hiểu và hoàn toàn có thể quan sát được trên thực tế khi một cá nhân có thể dùng tiềm lực về kinh tế, phong cách sống hay hiểu biết của bản thân để gia tăng mạng lưới các mối quan hệ. Ngoài ra, theo quan điểm của Bourdieu, vốn xã hội có thể bị/được „„định chế/thể chế‟‟ hóa, mang hàm ý các mạng lưới này ngoài những rằng buộc mang tính cụ thể hay trừu tượng thì cũng ít nhiều được „„quy chuẩn hóa‟‟ hay „„cưỡng bức‟‟ ở những mức độ khác nhau.2 Quan điểm của James Coleman & Robert Putman Tiếp thu những quan điểm của Bourdieu, nhưng Coleman và Putnam đã đặt vấn đề khác đi khi nhấn mạnh rằng vốn xã hội bao gồm các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực (norms) và sự tin cậy trong xã hội (social trust), những nhân tố này chính là những nền tảng giúp các thanh viên có thể hành động cùng với nhau: “Hiểu một cách tương tự như vốn vật thể hay vốn con người - đây là những phương tiện và (những kỹ năng) đào tạo (có tác dụng) làm gia tăng năng suất của cá nhân, „vốn xã hội‟ nói tới những khía cạnh đặc trưng 17 của tổ chức xã hội như các mạng lưới „xã hội‟, các chuẩn mực, và sự tin cậy trong xã hội vốn tạo điều kiện thuận lợi cho sư phối hợp và sự tương tác nhằm đạt đến lợi ích tương hỗ” [35, tr. Khác với quan điểm của Bourdieu – vốn nhận diện vốn xã hội như một thứ tài sản thuộc quyền sở hữu của mỗi cá nhân – quan điểm của Coleman và Putnam lại coi vốn xã hội như một thứ tài sản chung của một cộng đồng hay toàn thể xã hội. Hành đặc trưng của động tập tổ chức xã hội thể và Lợi ích tương hỗ Xã hội Vốn xã hội Sơ đồ 1.3: Vốn xã hội theo Quan điểm của James Coleman & Robert Putman.