Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hà Nội hiện là trung tâm bảo tồn di sản thủ công mỹ nghệ lớn nhất cả nước với hơn 1.350 làng nghề và hơn 200 làng nghề truyền thống tiêu biểu. Nổi bật tại khu vực cửa ngõ phía Nam Thủ đô, huyện Thường Tín sở hữu 120/126 làng có nghề, chiếm tỷ lệ 95,24%, trong đó có 44 làng nghề đã được Ủy ban nhân dân thành phố chính thức công nhận. Nơi đây là cái nôi của nghề thêu ren truyền thống Việt Nam gắn liền với tên tuổi của ông tổ nghề Lê Công Hành tại xã Quất Động từ thế kỷ 17. Mặc dù sở hữu bề dày lịch sử và tiềm năng kinh tế to lớn, làng nghề thêu ren Thường Tín trong thời kỳ hội nhập đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng, phương thức sản xuất còn mang nặng tính tự phát, quy mô phân tán và năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế sụt giảm.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Đào Thị Kim Thanh tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam được thực hiện nhằm giải quyết vấn đề cấp bách nêu trên. Đề tài tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng phát triển, đánh giá các yếu tố tác động và nhận diện các cơ hội, thách thức trong sản xuất kinh doanh thêu ren. Phạm vi không gian nghiên cứu được triển khai chuyên sâu tại 4 xã trọng điểm gồm Quất Động, Dũng Tiến, Thắng Lợi và Nguyễn Trãi trên tổng diện tích tự nhiên 12.738,64 ha của huyện Thường Tín; dữ liệu thứ cấp được tổng hợp trong giai đoạn 2013-2015 và thời gian thực hiện nghiên cứu kéo dài từ tháng 4/2015 đến tháng 4/2016. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân toàn huyện đạt 17,64%/năm, nâng mức thu nhập bình quân đầu người từ 23,6 triệu đồng/năm (2013) lên 27,5 triệu đồng/năm (2015) và giải quyết sinh kế ổn định cho 11.401 lao động thêu ren tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển kinh tế nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tác giả Ngô Thắng Lợi (2012), kết hợp lý thuyết về vai trò kinh tế - xã hội của làng nghề truyền thống của tác giả Bùi Văn Vượng (2002) và Đỗ Thị Thạch (2006). Khung lý thuyết xác định làng nghề truyền thống theo tiêu chuẩn của Thông tư 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cụm dân cư có lịch sử làm nghề trên 50 năm, tạo ra sản phẩm mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và đảm bảo tỷ trọng thu nhập phi nông nghiệp đạt trên 50% tổng giá trị sản xuất của làng.

Ba khái niệm trung tâm được vận dụng xuyên suốt gồm: Phát triển làng nghề là quá trình gia tăng về quy mô sản xuất song hành với việc tối ưu hóa hiệu quả kinh tế, giải quyết hài hòa các vấn đề an sinh xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái; Giá trị sản xuất (Gross Output - GO) đại diện cho toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ tạo ra trong năm; Chi phí trung gian (Intermediate Cost - IC) và Thu nhập hỗn hợp (Mixed Income - MI) phản ánh thặng dư kinh tế của các hộ gia đình cá thể. Bên cạnh đó, luận văn tổng hợp bài học thực tiễn từ kinh nghiệm quốc tế như mô hình hiện đại hóa công cụ truyền thống tại thị trấn Takeo, tỉnh Gifu - Nhật Bản với 200 hộ và 1.000 nghệ nhân, chính sách công nghiệp hóa đồ gốm sứ và trang sức tại Chiêng Mai - Thái Lan, và cơ chế liên kết trung tâm công nghiệp lớn với làng nghề gia công tại Indonesia.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được cấu thành từ hai hợp phần sơ cấp và thứ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ Niên giám thống kê huyện Thường Tín giai đoạn 2013-2015, Báo cáo Đại hội Đảng bộ huyện Thường Tín lần thứ XXIII (2015) và các văn bản pháp lý như Nghị định 66/2006/NĐ-CP, Quyết định 31/2014/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa với tổng quy mô mẫu là 98 đối tượng, bao gồm 70 cơ sở sản xuất (58 hộ sản xuất cá thể, 4 hợp tác xã thêu ren, 8 doanh nghiệp tư nhân), 8 cán bộ quản lý chuyên trách cấp huyện/xã và 20 khách hàng tiêu dùng tại 4 xã Quất Động, Dũng Tiến, Thắng Lợi và Nguyễn Trãi.

Phương pháp chọn mẫu được tiến hành theo nguyên tắc chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện có chủ đích, nhằm phản ánh chính xác các quy mô tổ chức sản xuất khác nhau trong làng nghề. Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp phân tích thống kê mô tả, phương pháp so sánh tương đối - tuyệt đối và phân tích ma trận SWOT là vì các công cụ này cho phép lượng hóa chính xác hiệu quả tài chính vi mô thông qua các chỉ số GO/Lao động, GO/Vốn, MI/Đầu người, đồng thời cung cấp góc nhìn toàn diện về năng lực nội tại cũng như rào cản ngoại cảnh của chuỗi giá trị thêu ren truyền thống.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất chỉ ra sự tăng trưởng tích cực về quy mô lao động và thu nhập của người dân làm nghề thêu. Lực lượng lao động thêu ren tại huyện Thường Tín tăng đều đặn từ 10.050 người năm 2013 lên 10.701 người năm 2014 (tăng 6,48%) và đạt 11.401 người năm 2015 (tăng vọt 13,09% so với 2014), đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 9,73%/năm. Thu nhập bình quân đầu người của người dân địa phương tăng từ 23,6 triệu đồng/năm (2013) lên 25,7 triệu đồng (2014) và đạt 27,5 triệu đồng (2015), tương đương mức tăng 7,95%/năm, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện từ 2.638 hộ năm 2013 xuống còn 1.793 hộ năm 2015 (giảm 845 hộ nghèo).

Phát hiện thứ hai cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ gắn với tái phân bổ tài nguyên đất đai. Tổng giá trị sản xuất toàn huyện năm 2015 đạt 12.291,6 tỷ đồng, trong đó nhóm ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng giữ vai trò trụ cột chiếm 54,5%, thương mại - dịch vụ chiếm 34,5%, trong khi khu vực nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 11,0%. Diện tích đất nông nghiệp giảm từ 7.321,69 ha năm 2013 xuống còn 6.943,55 ha năm 2015 (giảm 378,14 ha, tỷ trọng giảm từ 60,45% xuống 57,47%), nhường chỗ cho đất phi nông nghiệp phục vụ hạ tầng và tiểu thủ công nghiệp tăng 339,39 ha, đạt mức tăng bình quân 8,00%/năm.

Phát hiện thứ ba làm rõ sự chênh lệch hiệu quả giữa các hình thức tổ chức sản xuất. Mô hình doanh nghiệp và hợp tác xã có chỉ số giá trị sản xuất trên một đồng vốn và khả năng tạo thu nhập hỗn hợp cho lao động cao hơn từ 25% đến 35% so với hộ sản xuất cá thể, nhờ ưu thế chủ động nguyên liệu đầu vào và tiếp cận trực tiếp các hợp đồng gia công xuất khẩu lớn.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm minh chứng rõ nét quy luật chuyển dịch kinh tế nông thôn tại vùng ngoại thành Thủ đô. Khi dữ liệu được trực quan hóa qua biểu đồ cột thể hiện tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2013-2015 với mức tăng bình quân 19,35%/năm, kết hợp với biểu đồ tròn biểu diễn cơ cấu kinh tế năm 2015, người xem có thể thấy rõ vai trò đòn bẩy của 6 cụm công nghiệp tập trung (gồm Liên Phượng, Hà - Bình - Phương, Quất Động, Lưu Xá - Quất Động, Duyên Thái, Hà Hồi - Quất Động) và 26 điểm công nghiệp làng nghề. Nguyên nhân chính của sự bứt phá là nhờ địa phương đã tận dụng hiệu quả mạng lưới giao thông huyết mạch gồm Quốc lộ 1A dài 17,2 km, đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ dài 17 km và 2 nhà ga đường sắt Bắc Nam (ga Thường Tín và ga Tía) để giao thương hàng hóa.

Tuy nhiên, phân tích ma trận SWOT chỉ ra những hạn chế cố hữu: hơn 80% cơ sở sản xuất vẫn duy trì quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ, kỹ thuật sản xuất chưa được đầu tư chiều sâu và phụ thuộc vào thương lái trung gian. Đáng chú ý, 75% cơ sở khảo sát chưa đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, tiềm ẩn rủi ro bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Thêm vào đó, công đoạn giặt là, tẩy sút sô đa và ngâm nước oxy già công nghiệp trong quy trình hoàn thiện sản phẩm vẫn xả thải trực tiếp, gây ô nhiễm nguồn nước cục bộ tại các khu dân cư. So sánh với các tỉnh lân cận như Bắc Ninh hay Hà Tây trước đây, Thường Tín vẫn thiếu một trung tâm thiết kế mẫu mã thêu ren chuyên biệt và chưa kết nối đồng bộ giữa 385 di tích lịch sử trên địa bàn với các tour du lịch trải nghiệm làng nghề.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch không gian cụm công nghiệp làng nghề và kiểm soát môi trường sản xuất. Ủy ban nhân dân huyện Thường Tín phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng đồng bộ tại 26 điểm công nghiệp làng nghề, thực hiện di dời 100% cơ sở giặt là, tẩy nhuộm gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư nông thôn trước quý 4 năm 2018, bảo đảm 100% lượng nước thải sản xuất được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường quốc gia.

Thứ hai, đa dạng hóa mô hình tổ chức sản xuất và mở rộng kênh huy động vốn tín dụng ưu đãi. Phòng Kinh tế huyện Thường Tín cùng các ngân hàng thương mại trên địa bàn triển khai gói tín dụng ưu đãi hỗ trợ lãi suất từ 3% đến 5%/năm theo Quyết định 193/2001/QĐ-TTg, khuyến khích các hộ cá thể liên kết thành lập hợp tác xã hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ doanh nghiệp và hợp tác xã thêu ren lên mức 25% tổng số cơ sở sản xuất vào năm 2020.

Thứ ba, xây dựng thương hiệu tập thể và bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm thêu ren. Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội chủ trì phối hợp với Hiệp hội Làng nghề Thường Tín xây dựng bộ nhận diện thương hiệu, đăng ký nhãn hiệu chứng nhận Thêu ren Quất Động - Thường Tín trong giai đoạn 2017-2018, đồng thời gắn mã số mã vạch và tem truy xuất nguồn gốc cho tối thiểu 80% sản phẩm tranh thêu nghệ thuật cao cấp.

Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với phát triển du lịch làng nghề di sản. Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp huyện Thường Tín phối hợp cùng các nghệ nhân ưu tú tổ chức định kỳ 15-20 lớp truyền nghề mỗi năm cho 1.500 lao động trẻ; liên kết với Sở Du lịch Hà Nội đưa các làng thêu Quất Động, Dũng Tiến, Thắng Lợi, Nguyễn Trãi vào chuỗi tour du lịch văn hóa tâm linh Chùa Đậu - Đền Nguyễn Trãi, phấn đấu nâng tỷ trọng tiêu thụ sản phẩm tại chỗ qua kênh du lịch đạt 30% tổng sản lượng trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý kinh tế cấp tỉnh, huyện và xã. Luận văn cung cấp hệ thống cơ sở dữ liệu thực chứng về 120 làng có nghề, 44 làng nghề được công nhận và cơ cấu phân bổ đất đai, giúp cơ quan nhà nước hoàn thiện các quy hoạch phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phù hợp với Nghị định 66/2006/NĐ-CP và Quyết định 31/2014/QĐ-UBND.

Nhóm thứ hai là chủ các doanh nghiệp, ban quản trị hợp tác xã và các chủ hộ sản xuất kinh doanh thêu ren. Tài liệu mang lại bức tranh chi tiết về phương pháp tính toán giá trị sản xuất GO, chi phí trung gian IC và thu nhập hỗn hợp MI, gợi mở chiến lược đa dạng hóa dòng sản phẩm từ thêu tay truyền thống sang thêu ứng dụng nội thất cao cấp nhằm tối ưu hóa lợi nhuận.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các khối ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển và Phát triển nông thôn. Công trình là tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình thiết kế bảng hỏi khảo sát 98 đối tượng, phương pháp xử lý dữ liệu vi mô bằng Excel và kỹ thuật ứng dụng ma trận SWOT trong phân tích kinh tế thực chứng.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp lữ hành và các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian. Luận văn gợi mở mô hình tích hợp di sản nghề thêu thủ công với hệ thống 385 di tích cổ và 99 di tích đã xếp hạng trên địa bàn Thường Tín, cung cấp luận cứ vững chắc để xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa làng nghề độc đáo.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn sử dụng quy mô mẫu khảo sát là bao nhiêu và phương pháp chọn mẫu được thực hiện như thế nào?

Nghiên cứu tiến hành khảo sát thực tế trên tổng quy mô 98 mẫu tại 4 xã Quất Động, Dũng Tiến, Thắng Lợi và Nguyễn Trãi. Mẫu bao gồm 70 cơ sở sản xuất (58 hộ cá thể, 4 hợp tác xã, 8 doanh nghiệp), 8 cán bộ quản lý địa phương và 20 người tiêu dùng, áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu có chủ đích.

Yếu tố nào đóng vai trò đòn bẩy đưa tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Thường Tín đạt 54,5% năm 2015?

Động lực chính xuất phát từ việc khai thác hiệu quả nguồn lao động 11.401 người tại 120 làng có nghề, kết hợp quy hoạch 6 cụm công nghiệp và chuyển đổi 378,14 ha đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, tận dụng lợi thế trục giao thông Quốc lộ 1A và cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ để mở rộng thị trường.

Những rào cản lớn nhất kìm hãm sự phát triển của làng nghề thêu ren Thường Tín giai đoạn 2013-2015 là gì?

Nghiên cứu chỉ ra ba rào cản chính gồm: quy mô sản xuất phân tán với hơn 80% là kinh tế hộ thiếu vốn dài hạn; 75% cơ sở chưa đăng ký bảo hộ thương hiệu dẫn đến nguy cơ bị cạnh tranh không lành mạnh; và công đoạn tẩy nhuộm, giặt là thủ công xả thải trực tiếp gây ô nhiễm môi trường.

Chỉ tiêu thu nhập hỗn hợp MI phản ánh ý nghĩa kinh tế gì đối với hộ gia đình làm nghề thêu ren?

Chỉ tiêu thu nhập hỗn hợp MI được tính bằng giá trị sản xuất GO trừ chi phí trung gian IC, thuế sản xuất và khấu hao tài sản. Chỉ số này phản ánh toàn bộ thu nhập thực tế của hộ thêu cá thể gồm tiền công lao động gia đình và lợi nhuận sản xuất, đạt mức bình quân 27,5 triệu đồng/người/năm vào 2015.

Mô hình phát triển làng nghề gắn với du lịch mang lại lợi ích cụ thể nào cho thợ thêu Thường Tín?

Mô hình này giúp thợ thêu tiếp cận trực tiếp khách du lịch thông qua tuyến tham quan 99 di tích lịch sử xếp hạng, giảm bớt khâu trung gian thương lái, nâng tỷ lệ tiêu thụ tại chỗ lên 30% và gia tăng giá trị thặng dư của sản phẩm thêu tay nghệ thuật từ 20% đến 35%.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế, trong nước về quản lý phát triển làng nghề truyền thống trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
  • Phân tích bức tranh kinh tế Thường Tín giai đoạn 2013-2015 với tốc độ tăng trưởng bình quân 17,64%/năm, khẳng định vị thế chủ lực của nhóm ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng chiếm 54,5% cơ cấu kinh tế.
  • Đánh giá sâu sắc thực trạng nghề thêu ren với quy mô 11.401 lao động, nâng cao thu nhập bình quân đầu người đạt 27,5 triệu đồng/năm và giảm 845 hộ nghèo trên toàn địa bàn huyện.
  • Nhận diện chính xác các điểm nghẽn then chốt qua ma trận SWOT về vốn đầu tư, quy mô phân tán, nguy cơ mất thương hiệu và vấn đề ô nhiễm nước thải từ khâu giặt là, tẩy nhuộm.
  • Thiết lập hệ số 8 nhóm giải pháp đồng bộ từ quy hoạch không gian, hỗ trợ tín dụng ưu đãi 3% đến 5%/năm, bảo hộ chỉ dẫn địa lý đến kết nối tuyến du lịch văn hóa Chùa Đậu - Đền Nguyễn Trãi.

Đóng góp cốt lõi của luận văn là cung cấp luận cứ khoa học thực nghiệm và hệ thống chỉ tiêu kinh tế hoàn chỉnh giúp chính quyền huyện Thường Tín và các nhà quản lý xây dựng chiến lược phát triển làng nghề bền vững. Về lộ trình tiếp theo, giai đoạn 2016-2018 cần tập trung hoàn thiện hạ tầng 26 điểm công nghiệp làng nghề và đăng ký nhãn hiệu tập thể; giai đoạn 2018-2020 đẩy mạnh thương mại điện tử và chuỗi du lịch trải nghiệm làng nghề. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ sở sản xuất quan tâm có thể tiếp cận toàn văn công trình tại thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam để khai thác trọn vẹn giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn của đề tài.