PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT Lịch sử phát triển kinh tế xã hội cũng như lịch sử phát triển của nền văn hóa Việt Nam luôn gắn liền với lịch sử phát triển của làng nghề. Mỗi một làng nghề là một địa chỉ văn hóa nó phản ánh nét văn hóa độc đáo của từng địa phương, từng vùng. Từ xa xưa, hệ thống các làng nghề đã có mặt trên hầu hết mọi địa phương trên cả nước, nó luôn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt, lao động của người dân, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa tinh thần ở các vùng quê Việt Nam.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp rất có ý nghĩa trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Thủ đô Hà Nội là nơi có nhiều làng nghề truyền thống, có tới hơn 1.350 làng nghề, với hơn 200 làng nghề truyền thống lừng danh cả nước bởi sản phẩm đa dạng, đậm bản sắc dân tộc (Thanh Hoa, 2014). Một trong những làng nghề nổi bật nhất là các nghề thêu, tập trung nhiều ở các xã trong huyện Thường Tín, điển hình là làng nghề thêu Quất Động, làng nghề thủ có có lịch sử lâu đời vang danh khắp vùng Kinh Bắc từ xưa tới nay (Nguyễn Đức Toàn, 2005). Mặc dù có giá trị cao về kinh tế, văn hóa nhưng có giai đoạn các làng nghề thêu đang đứng trước nguy cơ bị mai một, sản phẩm mất dần sự cạnh tranh trên thị trường.
Vì vậy, trong thời gian tới phát triển các làng nghề thêu ren nhằm phát huy những lợi thế, tiềm năng của địa phương về một ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống, từ đó thúc đẩy các làng nghề thêu ren phát triển bền vững, lâu dài, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn địa phương là một yêu cầu tất yếu, là mối quan tâm của các cấp, ngành huyện Thường Tín. Trong những năm qua, thực hiện chủ trương hỗ trợ và phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước, các ngành nghề, làng nghề tiểu thủ công nghiệp ở nước ta đã và đang được khôi phục và phát triển. Hà Nội đã có nhiều chính sách để khuyến khích, hỗ trợ xây dựng hạ tầng, xử lý ô nhiễm, hỗ trợ xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu… để các nghệ nhân gắn bó với làng nghề, các làng nghề phát triển hưng thịnh góp phần tạo công ăn việc làm cho người dân, phát triển kinh tế xã hội và gìn giữ văn hóa dân tộc (Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND). Do đó, tôi đã chọn đề tài: “Phát triển làng nghề thêu ren truyền thống trên địa bàn huyện Thường Tín, Hà Nội” cho luận văn của mình.
1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển, các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề thêu ren ở Thường Tín, để đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển làng nghề thêu ren trên địa bàn huyện trong thời gian tới, góp phần phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập người dân ở Thường Tín, Hà Nội. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề truyền thống.
- Đánh giá thực trạng phát triển các làng nghề thêu ren trên địa bàn huyện Thường Tín và phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng phát triển làng nghề thêu ren. Chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với sự phát triển làng nghề thêu ren ở Thường Tín, Hà Nội. - Đề xuất phương hướng và giải pháp đẩy mạnh phát triển làng nghề thêu ren truyền thống trong thời gian tới, góp phần phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập người dân ở Thường Tín, Hà Nội. Câu hỏi nghiên cứu 1) Phát triển làng nghề thêu ren truyền thống gồm những nội dụng và tiêu chí đánh giá nào? 2) Cơ sở lý luận nào để phát triển làng nghề truyền thống? 3) Các bài học kinh nghiệm của địa phương khác trong phát triển làng nghề truyền thống là gì? 4) Thực trạng phát triển làng nghề thêu ren truyền thống trên địa bàn huyện Thường Tín như thế nào? 5) Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề thêu ren truyền thống trên địa bàn huyện Thường Tín là những yếu tố nào? 6) Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với sự phát triển làng nghề thêu ren ở Thường Tín, Hà Nội là gì? 7) Giải pháp nào để phát triển làng nghề thêu ren truyền thống trên địa bàn huyện Thường Tín? 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu Khách thể nghiên cứu: nghiên cứu các vấn đề kinh tế có liên quan đến tổ chức, quản lý và hoạt động nghề thêu trong các làng gắn với sự phát triển trên địa bàn huyện Thường Tín. Chủ thể nghiên cứu: nghiên cứu các tác nhân tham gia sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thêu ren trên địa bàn huyện Thường Tín bao gồm hộ, cán bộ quản lý các cấp, người tiêu thụ, các đơn vị kinh tế liên quan. Phạm vi nghiên cứu Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề thêu ren truyền thống ở huyện Thường Tín, Hà Nội.
Về không gian: Tại các làng nghề thêu thuộc xã: Xã Quất Ðộng, xã Dũng Tiến, xã Thắng Lợi, xã Nguyễn Trãi của huyện Thường Tín, Hà Nội. Về thời gian: + Số liệu thứ cấp: 3 năm (năm 2013- năm 2015) + Thời gian thực hiện đề tài: từ 4/2015-4/2016 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Khái niệm làng nghề, làng nghề truyền thống và làng nghề thêu truyền thống Khái niệm làng nghề Với những quan niệm khác nhau thì từ trước đến nay chúng ta có rất nhiều khái niệm về làng nghề. Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, kỉ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng.
Làng nghề không những là làng sống chuyên nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ăn việc làm. Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương (Phạm Côn Sơn, 2004). Xét theo góc độ kinh tế thì Dương Bá Phượng cho rằng “Làng nghề là làng ở nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công tách hẳn ra khỏi khu công nghiệp và kinh doanh độc lập. Thu nhập từ các làng nghề đó chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị toàn làng” (Dương Bá Phượng, 2001).
Làng nghề là những làng đã từng có từ 50 hộ hoặc từ 1/3 tổng số hộ hay lao động của địa phương trở lên làm nghề, chiếm phần chủ yếu trong tổng thu nhập của họ trong năm (Nguyễn Văn Đại và Trần Văn Luận,1997). Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng) có một hay một số nghề thủ công hầu như được tách hẳn ra khỏi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới một tỷ lệ nhất định về lao động làm nghề cũng như về mức thu nhập từ nghề so với tổng số lao động và thu nhập của làng (Đỗ Quang Dũng, 2006). Theo thông số 116/2006/TT-BNN Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ Về việc phát triển ngành nông thôn quy định “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khái niệm làng nghề truyền thống Làng nghề truyền thống là những làng nghề đã xuất hiện lâu đời, được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm.
Làng nghề truyền thống phải có các yếu tố sau: Hình thành và phát triển lâu đời, có nhiều nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, sử dụng nguyên liệu trong nước là chủ yếu, sản phẩm mang tính truyền thống và độc đáo của Việt Nam, có giá trị chất lượng cao, vừa là hàng hóa tiêu dùng, vừa là sản phẩm văn hóa nghệ thuật, mỹ thuật thậm chí trở thành các di sản văn hóa của dân tộc Việt Nam, là nghề nuôi sống phần lớn bộ phận dân cư trong làng. Theo Thông tư 116/2006/TT-BNN quy định làng nghề truyền thống có nghề đã xuất hiện trên 50 năm, tạo ra những sản phẩm mang bản sác văn hóa dân tộc, nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiểu nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề. Cho tới nay có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để một làng ở nông thôn được coi là một làng nghề truyền thống (Nguyễn Văn Đại và Trần Văn Luận (1996); Dương Bá Phượng (2001); Đỗ Quang Dũng (2006)). Tuy nhiên, các ý kiến thống nhất ở một số tiêu chí sau: Giá trị sản xuất và thu nhập của từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm.
Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt 30% so với tổng số hộ hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động. Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng và do người trong làng tham gia. Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ mang đậm nét yếu tố văn hóa và bản sắc dân tộc Việt Nam. Khái niệm làng nghề thêu truyền thống Nghề thêu là một ngành nghề truyền thống có từ rất lâu đời.
Đó là nghệ thuật dùng chỉ xuyên qua xuyên lại trên mặt vải để tạo ra một sản phẩm mỹ nghệ. Lịch sử nghề thêu truyền thống gắn liền với lịch sử tâm linh của người Việt Nam trong quá khứ. Sử cũ ghi chép lại rằng, ông tổ nghề thêu là Lê Công Hành tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội (Nguyễn Đức Toàn, 2005). 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Khái niệm về phát triển, Phát triển làng nghề Phát triển Phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.