ĐẶT VẤN ĐỀ Nhờ điều kiện tự nhiên mà chăn nuôi thủy cầm ở nước ta có nhiều lợi thế. Tính đến tháng 10 năm 2016, chăn nuôi thủy cầm (chủ yếu là chăn nuôi vịt) của Việt Nam vẫn đứng vị trí thứ 2 thế giới, tổng số thủy cầm cả nước là 84,5 triệu con , trong đó vịt chiếm 84,3%. Tuy nhiên, năng suất thịt vịt và hiệu quả chăn nuôi vịt của nước ta vẫn thấp hơn so với một số nước. Để tăng sản lượng thịt vịt và hiệu quả chăn nuôi vịt thì các giải pháp về quản lý, cải thiện điều kiện ngoại cảnh về chăm sóc nuôi dưỡng, thức ăn, vệ sinh thú y là hết sức cần thiết.
Việt Nam vốn là nước có bờ biển dài với nguồn thủy sinh phong phú. Môi trường ven biển là nguồn dinh dưỡng cho nhiều loài động vật, cả động vật hoang dã và động vật được thuần dưỡng. Cho đến nay, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản là hoạt động chính của người nông dân “miền biển”. Các giống vật nuôi thích nghi với điều kiện nước mặn và nước lợ chưa được chọn tạo.
Để tận dụng nguồn thức ăn dồi dào và nâng cao thu nhập của người dân vùng ven biển và hải đảo ứng phó với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, nước biển dâng, Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên khảo nghiệm và nuôi giữ giống vịt chịu nước mặn. Giống vịt chịu nước mặn cũng đã chính thức được bổ sung vào danh mục giống vật nuôi được phép kinh doanh ở Việt Nam và lấy tên vịt Biển 15- Đại Xuyên. Vì là giống mới lên những nghiên cứu về vịt Biển chưa có nhiều. Trên thực tế thì việc chăn nuôi vịt gặp không ít khó khăn về dịch bệnh và các bệnh thông thường.
Các bệnh thường gặp trên vịt là bệnh do Escherichia coli (E.coli), bệnh do Salmonaella, Pasteurella multocida.coli xảy ra ở vịt từ 1 đến 8 tuần tuổi, vịt chết đột ngột với trạng thái thần kinh quay quay đầu tỷ lệ chết từ 5 - 15%, vịt đẻ một số con bị bại liệt do viêm khớp, trứng đẻ ra có vết máu và phôi thường bị chết (Nguyễn Xuân Bình và cs.coli thường xuyên có mặt trong hệ vi sinh vật bình thường của đường tiêu hóa và môi trường chăn nuôi, tuy nhiên những E.coli gây bệnh cho gia cầm (Avian Pathogenic Escherichia coli – APEC) có mang yếu tố độc lực đặc hiệu và có khả năng gây bệnh. Đây là một trong những bệnh quan trọng trong chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi vịt nói riêng. Gây ảnh hưởng lớn 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến chất lượng đàn giống và gây tổn thất to lớn về kinh tế. Các dạng điển hình nhất của bệnh ở gia cầm là: nhiễm trùng huyết biểu hiện bằng viêm các túi khí, viêm màng bao tim, viêm gan, viêm vòi trứng.
Khi vịt con mắc bệnh, tỷ lệ chết có thể lên tới 20%, thậm chí là 70%. Vịt đẻ cũng có thể mắc bệnh, vịt giảm đẻ, tỷ lệ trứng non, méo mó, vỏ mỏng, dị dạng tăng lên, tỷ lệ phôi và tỷ lệ nở giảm, vịt nở ra yếu, tỷ lệ chết cao, chậm lớn. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu về bệnh này trên đàn vịt Biển 15 – Đại Xuyên ở Việt Nam được công bố. Giải quyết và khắc phục các bệnh trên vịt là vấn đề cần được quan tâm, cần có các quy trình phòng bệnh cụ thể để hạn chế thiệt hại do bệnh tật gây ra trên vịt.
Đảm bảo chất lượng đàn giống ông bà và có các sản phẩm sạch trong chăn nuôi là nhu cầu tất yếu của xã hội. Xuất phát từ những vấn đề trên, tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phân lập và xác định đặc tính sinh học của E.Coli trên giống vịt Biển 15”. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI Xác định được mối quan hệ giữa tuổi vịt biển và điều kiện môi trường nước đến tỷ lệ phân lập E.coli của vịt Biển 15 – Đại Xuyên. Xác định được mức độ mẫn cảm kháng sinh của các chủng E.
coli phân lập từ các vịt biển nuôi trong môi trường nước mặn và nước ngọt làm cơ sở cho xây dựng phác đồ điều trị hiệu quả bệnh do E. coli trên giống vịt này. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Ý nghĩa thực tiễn Sự thành công của đề tài sẽ góp phần giảm thiểu tình trạng bệnh do E.coli gây ra trên vịt Biển 15 – Đại Xuyên, tạo đàn giống vịt Biển 15 – Đại Xuyên ông bà khỏe mạnh. Đề tài cũng tạo cơ sở cho sử dụng kháng sinh một cách hợp lý hạn chế hiện tượng kháng thuốc trên vịt Biển, góp phần trong công tác phát triển đàn vịt mới phù hợp với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và nước biển dâng.
Ý nghĩa khoa học Cung cấp thông tin mới mối quan hệ giữa môi trường nước (nước ngọt và nước mặn) – vịt biển – vi khuẩn E. Đây là một ví dụ về mối quan hệ giữa yếu tố môi trường – vật chủ - tác nhân gây bệnh. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.COLI VÀ BỆNH DO E.
COLI Ở GIA CẦM Bệnh truyền nhiễm ở gia cầm do vi khuẩn E.coli gây ra lần đầu tiên được David công bố vào năm 1938 sau đó là Twisselman vào năm 1939 (Gross, 1994). Đây là một trong những bệnh thường gặp nhất và gây nên những thiệt hại đáng kể về kinh tế trong chăn nuôi gia cầm nói chung (Kikuyasu Nakamura, 2000). Bệnh làm tăng tỷ lệ chết, giảm năng suất và tăng tỷ lệ loại thải (Barnes et al. Bệnh có thể xảy ra ở gia cầm non, gia cầm đang lớn và cả đàn bố mẹ.
Đây là bệnh liên quan đến môi trường, có thể nguyên phát, có thể kế phát sau các bệnh nhiễm trùng khác hay công tác vệ sinh không tốt, gây ảnh hưởng đến đàn (Alastair Johnston, 2007). Bệnh ở gia cầm chủ yếu do các chủng vi khuẩn E.coli thuộc nhóm gây bệnh cho gia cầm gây ra (Avian Pathogenic Escherichia coli- APEC). Quá trình nhiễm trùng thường bắt đầu từ đường hô hấp, từ đó chuyển đến các xoang khí hoặc túi khí. Nếu không phát hiện kịp thời, nhiễm trùng có thể chuyển thành dạng viêm thanh dịch.
Bệnh thường quan sát thấy ở gia cầm 4-9 tuần tuổi và gây thiệt hại đáng kể về kinh tế do tỷ lệ chết có thể tới 20%, ngoài ra còn làm giảm khả năng tăng trưởng, khả năng thu nhận thức ăn, đồng thời tăng sự lây nhiễm khi giết mổ (Dho-Moulin and Fairbrother, 1999). Báo cáo của các quốc gia Tây Âu cho thấy bệnh do E. coli gây ảnh hưởng lớn đến gia cầm nuôi công nghiệp do mật độ nuôi cao và môi trường bị ô nhiễm (Vandekerchove et al., 2005; Jordan et al. Colibacillosis xảy ra ở tất cả các nước trên thế giới, chủ yếu gây thiệt hại và gây chết ở gia cầm, phổ biến nhất là các thể bệnh nhiễm trùng đường hô hấp, nhiễm trùng huyết.Bệnh xảy ra là nguyên nhân chính gây thiệt hại về kinh tế đáng kể cho ngành chăn nuôi gia cầm (Ewers et al.
Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy vi khuẩn E.coli thường xuyên có mặt trong đường tiêu hóa của gia cầm khỏe. Ở gà, số lượng vi khuẩn có thể đạt tới 109/1g phân, trong đó 106 là vi khuẩn E.coli và 10-15% số đó thuộc các nhóm huyết thanh có khả năng gây bệnh. Phân và bụi ở trong chuồng nuôi gia cầm cũng là các nguồn tiềm tàng làm lây nhiễm các chủng vi khuẩn E.coli gây bệnh. Trong 1g bụi ở chuồng nuôi gia cầm có thể chứa tới 106 vi khuẩn, bên cạnh đó còn có sự liên hệ chặt chẽ giữa các nhóm huyết thanh của các chủng tìm thấy trong bụi và các chủng gây bệnh bại huyết cho gia cầm (Carlson and Whenham, 1968).
Điều 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thú vị là những nhóm huyết thanh của các chủng gây bệnh ở gia cầm lại không hoàn toàn tương tự với các chủng tồn tại trong đường tiêu hóa của chúng. COLI TRÊN GIA CẦM Ở VIỆT NAM. Khi phân lập và định type vi khuẩn E.coli trên gà, trứng gà tại một số cơ sở chăn nuôi ở Thủ Đức và vùng lân cận, có 3 serotype được xác định là O1:K1, O2:K1, O78:K80. Kết quả kháng sinh đồ cho thấy 63,16% các chủng E.coli mẫn cảm với Colistin, 55,27% với Gentamycin và 44,74% với Kanamycin (Tô Minh Châu, 2002).
Võ Thành Thìn và cs. (2008a) ứng dụng phương pháp multiplex PCR để phát hiện khả năng tranh giành sắt của vi khuẩn E.coli gây bệnh trên gà phân lập được từ Khánh Hòa và Phú Yên. Tỷ lệ các chủng vi khuẩn mang gen fhuA, iutA, iron, fyuA, fepA, fhuE, cir, ireA,fecA, chuA lần lượt là 50, 90, 75, 25, 100, 95, 95, 55, 45, và 45%. Khi nghiên cứu một số yếu tố độc lực của các chủng vi khuẩn E.coli gây bệnh phân lập được theo Võ Thành Thìn và cs.
(2008b) cho biết, trong 96 chủng vi khuẩn E.coli phân lập được bằng phản ứng ngưng kết với 25 loại kháng huyết thanh chuẩn, các chủng được xác định là thuộc 15 serotype, O8 chiếm tỷ lệ cao nhất 110,42%; O15 (8,33%); O115 (4,17%); O5, O2, O17, O83 là 3,13%; O6, O20, O103 là 2,08%; O9, O18, O88, O102, O132 là 1,04%, không phát hiện thấy chủng nào thuộc serotype O1 và O78. Xác định được 84/96 chủng đề kháng mạnh với huyết thanh gà, đây là yếu tố quan trọng giúp vi khuẩn chủng APEC tồn tại và nhân lên trong máu. Xác định gen quy định yếu tố độc lực bằng phương pháp PCR: có 90/96 chủng mang kháng nguyên bám dính type 1, 10 chủng mang kháng nguyên bám dính P, 15 chủng mang gen Tsh. Theo Đỗ Ngọc Thúy (2009), có 50 chủng có thể xác định được serotype và thuộc về 21 loại kháng nguyên O.
Trong đó số chủng thuộc O8 chiếm tỷ lệ cao nhất (15,5%) tiếp đến là O169 (13,8%), O115 (10,3%) O143 (6,9%) O15, O63, O136, O152 cùng có tỷ lệ là 3,4%, có 8 chủng (13,8%) không thể xác định được serotype với 9 nhóm huyết thanh đã sử dụng. Theo Nguyễn Thị Liên Hương (2009), cho thấy các chủng vi khuẩn E.coli phân lập từ ngan mắc bệnh có mang yếu tố gây bệnh và đều gây chết phôi ngan, vịt trong vòng 1-5 ngày sau tiêm. Các phôi chết mổ khám đều có hiện tượng: bề mặt ngoài da xuất huyết nặng, các cơ quan phủ tạng bên trong (tim, gan, phổi, dạ dày, ruột) cũng bị xuất huyết thành từng đám. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Nguyễn Thị Liên Hương (2009), tại Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương, tỷ lệ ngan mắc Colibacillosis là 7,78-8,97% trong 3 năm và tỷ lệ chết là 2,04-2,52%.
Kết quả phân lập vi khuẩn từ phủ tạng ngan nghi mắc Colibacillosis cho thấy, tỷ lệ E.