Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo hƣớng trải nghiệm sáng tạo cho học sinh trung học cơ sở. Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo hƣớng trải nghiệm sáng tạo cho học sinh trƣờng trung học cơ sở Dữu Lâu - thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ. Chương 3: Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo hƣớng trải nghiệm sáng tạo cho học sinh trƣờng trung học cơ sở Dữu Lâu - thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP THEO HƢỚNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ngoài nước Tầm quan trọng của các hoạt động giáo dục NGLL đƣợc nhiều nhà giáo dục trên thế giới quan tâm, coi các hoạt động giáo dục NGLL giúp học sinh gắn kiến thức với cuộc sống, các hoạt động này có ý nghĩa quan trọng trong công tác giáo dục thế hệ trẻ. Theo Makarenco, một trong những logic của quá trình sƣ phạm là “Quá trình tổ chức hợp lý hoạt động của học sinh tham gia vào cách mạng xã hội, lao động sản xuất, các hoạt động lao động tập thể như: vui chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, văn hóa nghệ thuật” [22].Ilina, nhà giáo dục Xô Viết của thế kỷ XX đã cho rằng “ Quản lý các HĐGD ngoài giờ học với mục đích bổ sung và làm sâu hơn công tác giáo dục nội khóa; trước tiên, nó là phương tiện để phát hiện đầy đủ năng lực học sinh, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hướng của các em đối với hoạt động nào đó và cũng là hình thức tổ chức giải trí cho các em, là cơ sở để quản lý việc thực tập về hành vi đạo đức để xây dựng kinh nghiệm của hành vi này ” [16]. Từ giữa thế kỉ XX, nhà khoa học giáo dục nổi tiếng ngƣời Mĩ, John Dewey, với tác phẩm “Kinh nghiệm và Giáo dục (Experience and Education)” [8], đã chỉ ra hạn chế của giáo dục nhà trƣờng và đƣa ra quan điểm về vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục.
Dewey cũng chỉ ra rằng “những kinh nghiệm có ý nghĩa giáo dục giúp nâng cao hiệu quả giáo dục bằng cách kết nối người học và những kiến thức được học với thực tiễn”. Một số quan niệm khác của các học giả quốc tế cho rằng “giáo dục trải 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệm coi trọng và khuyến khích mối liên hệ giữa các bài học trừu tượng với các hoạt động giáo dục cụ thể để tối ưu hóa kết quả học tập” (Sakofs, 1995); “ học từ trải nghiệm phải gắn kinh nghiệm của người học với hoạt động phản ánh và phân tích” (Chapman, McPhee and Proudman, 1995); “chỉ có kinh nghiệm thì chưa đủ để được gọi là trải nghiệm; chính quá trình phản ánh đã chuyển hóa kinh nghiệm thành trải nghiệm giáo dục” (Joplin, 1995). Các nghiên cứu trong nước Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh khác nhau của HĐGDNGLL nhƣ vai trò, biện pháp, phƣơng pháp, hình thức tổ chức trong nhà trƣờng, ngoài nhà trƣờng ở các bậc học khác nhau: Giáo dục Mầm non, giáo dục Tiểu học, giáo dục THCS, giáo dục THPT, giáo dục Đại học. Ở Việt Nam, từ thời kỳ đầu của nền giáo dục nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ phƣơng pháp để đào tạo nên ngƣời tài đức là: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội!”.
Tác giả Hà Nhật Thăng (Chủ biên) [ 23]; [24]; [25]; [26] sách giáo viên hoạt động giáo dục NGLL 6; 7; 8; 9 cũng đã nêu lên mục tiêu, nội dung, chƣơng trình, phƣơng tiện, trang bị cho việc tổ chức HĐGDNGLL, đánh giá kết quả tổ chức HĐGDNGLL của học sinh đồng thời hƣớng dẫn thực hiện các chủ điểm. Trong đề án đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đặc biệt là đổi mới chƣơng trình sách giáo khoa sau năm 2018 muốn nhấn mạnh đến sự thay đổi nhận thức, ý thức về quan điểm giáo dục dựa vào năng lực vì vậy HĐGDNGLL đƣợc thay tên gọi là hoạt động TNST. Tên gọi mới cũng muốn tránh sự hiểu nhầm rằng ngoài giờ thì không quan trọng, không có vị trí xứng đáng; hoặc là đơn giản hóa nội dung, mục đích của hoạt động này. Trong tên gọi mới, “trải nghiệm” là phƣơng thức giáo dục và “sáng tạo” là mục tiêu giáo dục [Đinh Kim Thoa, 2015].
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoạt động TNST sẽ là môi trƣờng để giúp học sinh trải nghiệm tất cả những gì đƣợc học từ các môn học, chủ đề hay lĩnh vực, giúp vận dụng kiến thức có đƣợc từ nhà trƣờng vào thực tiễn cuộc sống và cũng thông qua đó, những năng lực gắn với cuộc sống đƣợc hình thành. Nói cách khác là đào tạo một lớp ngƣời mới tinh thông về nghề nghiệp, có khả năng thích ứng cao với những biến động của cuộc sống[10]. Gần đây, đã có một số nghiên cứu trong nƣớc đề cấp đến hoạt động TNST nói chung và hoạt động TNST trong nhà trƣờng nói riêng nhƣ: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo-kinh nghiệm quốc tế và vấn đề của Việt Nam” của tác giả Đỗ Ngọc Thống [30]; Hoạt động trải nghiệm sáng tạo - Góc nhìn từ lý thuyết “Học từ trải nghiệm” của tác giả Đinh Thị Kim Thoa [27]; Một số vấn đề về hoạt động TNST trong chƣơng trình giáo dục phổ thông mới - tác giả Lê Huy Hoàng [12]; tổ chức hoạt động giáo dục TNST giải pháp phát huy năng lực ngƣời học - tác giả Nguyễn Thị Thu Hoài [13]. Trong bài nghiên cứu có nhan đề “mục tiêu năng lực, nội dung chƣơng trình, cách đánh giá trong hoạt động TNST” tác giả Đinh Thị Kim Thoa [28] đã chỉ ra để phát triển chƣơng trình hoạt động TNST cần phải xác định và xây dựng đƣợc khung năng lực, từ đó thiết kế nội dung để đạt đƣợc mục tiêu đặt ra.
Tác giả Bùi Ngọc Diệp đã gợi ý các hình thức tổ chức hoạt động TNST có thể tổ chức đƣợc nhiều nhất, hiệu quả nhất đáp ứng nhu cầu và mục tiêu giáo dục trong bài “ Hình thức tổ chức các hoạt động TNST trong nhà trƣờng phổ thông” [9]. Trong thời gian gần đây HĐGDNGLL đƣợc nghiên cứu khá nhiều ở nƣớc ta, và ở nhiều cấp độ khác nhau, đã tạo ra một hiệu quả đáng khích lệ trong việc nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của HĐGDNGLL theo hƣớng TNST và khẳng định vị trí tất yếu của hoạt động này trong quá trình QLGD ở nhà trƣờng nói riêng và là con đƣờng hình thành và phát triển các kỹ năng, tình cảm, niềm tin đúng đắn ở học sinh, nhằm phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ nói chung. Tuy nhiên, nghiên cứu trên khía cạnh quản lý, tổ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chức thực hiện HĐGDNGLL theo hƣớng TNST vẫn còn là một lĩnh vực mới mẻ, còn ít đƣợc quan tâm. Việc phối hợp các LLGD trong và ngoài nhà trƣờng tham gia vào HĐGDNGLL đã đƣợc đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục nhƣng vẫn chƣa đề cập nhiều tới xu hƣớng đổi mới giáo dục và tƣ tƣởng của hoạt động TNST trong chƣơng trình giáo dục phổ thông mới.
Nhƣ vậy đã có không ít các tác giả nghiên cứu về vấn đề HĐGDNGLL nhƣng ở nhiều khía cạnh khác nhau, song về góc độ quản lý đối với HĐGDNGLL theo hƣớng TNST ở trƣờng THCS Dữu Lâu chƣa đƣợc đề cập có hệ thống, đặc biệt chƣa có công trình nào nghiên cứu. Qua đề tài này, tác giả thực sự mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình để nghiên cứu và đề xuất những biện pháp quản lý HĐGDNGLL theo hƣớng TNST tại trƣờng THCS Dữu Lâu nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục đáp ứng yêu cầu của xã hội trong bối cảnh hiện nay. Những khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm quản lí và quản lí giáo dục 1.
Quản lý Quản lý tồn tại nhƣ một tất yếu khách quan từ khi loài ngƣời xuất hiện và ngày nay đã trở thành một khoa học, có vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại ở mọi lĩnh vực nhƣ chính trị, kinh tế, quân sự, giáo dục,.; vì vậy, quản lý đƣợc thể hiện ở các cách tiếp cận khác nhau nhƣ: F.Taylor (1856- 1915), ngƣời đƣợc mệnh danh là cha đẻ của lý luận quản lý khoa học đã cho rằng cốt lõi trong quản lý là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và phải quản lý chặt chẽ”. “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”[7]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu về khoa học quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [6, tr. Theo Trần Kiểm “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực ( nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức với hiệu quả cao nhất ”[17].
Tóm lại, mặc dù có những kiến giải khác nhau, nhƣng xét trên tổng thể, phần lớn các nghiên cứu đã thống nhất: Quản lý là sự tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức hoạt động có hiệu quả cao. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định hƣớng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đề ra hoặc quản lý giáo dục là quá trình đạt tới mục tiêu trên cơ sở thực hiện có ý thức và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra [18, tr.15-16] Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” [11].