Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tin cho học sinh trong dạy học lịch sử lớp 10 ở trường trung học phổ thông. Chương 2: Một số biện pháp phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tin cho học sinh trong dạy học lịch sử lớp 10 ở trường trung học phổ thông. Thử nghiệm sư phạm. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬLỚP 10 Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm CNTT CNTT & TT (Information and Communication Technology – ICT) là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật hiện nay.Nó thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, giáo dục, đào tạo và các hoạt động chính trị - xã hội khác. Theo Nghị quyết 49/CP của Chính phủ ban hành ngày 04 tháng 08 năm 1993 về phát triển CNTT ở nước ta trong những năm 90 nêu: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”. Khoản 1 điều 4 Luật CNTT năm 2006 cũng giải thích “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số” [37, tr.
Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực có nguồn gốc Latinh “competentia” có nghĩa là “gặp gỡ”. Trong tiếng Anh, khái niệm năng lực hay khả năng tương ứng với các thuật ngữ “competence”, “ability” hay “capability”. Có rất nhiều định nghĩa về năng lực và khái niệm này thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu. Theo từ điển tiếng Việt, năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao, hay “khả năng làm việc tốt” [46, tr.
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ Tâm lý học tác giả Vũ Dũng lại cho rằng: “năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định” [15]. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ điển Giáo dục học giải thích: “năng lực là khả năng được hình thành hoặc phát triển cho phép một con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp” [21, tr. Trước đây, theo cách tiếp cận truyền thống (tiếp cận hành vi) thì năng lực là khả năng đơn lẻ của cá nhân, được hình thành dựa trên sự lắp ghép các mảng kiến thức và kỹ năng cụ thể. Trong thập kỷ gần đây, năng lực đang được nhìn nhận bằng tiếp cận tích hợp.
Theo Barnett: “Năng lực là một tập hợp các kiến thức, kĩ năng và thái độ phù hợp với một hoạt động thực tiễn” [18]. Chú trọng hơn đến tính thực hành của năng lực, Rogiers cho rằng: “Năng lực là biết cách sử dụng các kiến thức và kĩ năng trong một tình huống có nghĩa”. Đề cập đến tính định lượng của năng lực, Howard Gardner (1999) khẳng định: “Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được” [47, tr. Theo quan điểm triết học của John Erpenbeck (2001): “Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, xếp đặt như là các khả năng, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí”.
Nhà giáo dục học F.Weinert (2001) cho rằng: “Năng lực là những kĩ năng, kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội… và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”. Denys Tremblay (2002), nhà tâm lý học người Pháp quan niệm rằng: “Năng lực là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”. OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002) lại cho rằng: “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” [48, tr. Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2005): “Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức” [13, tr.
Theo tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn (1998): “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [40, tr. Với đối tượng cụ thể là HSTHPT, tác giả Nguyễn Thị Minh Phương cho rằng: “Năng lực cần đạt được của HSTHPT là tổ hợp nhiều khả năng và giá trị được cá nhân thể hiện thông qua các hoạt động có kết quả” [36, tr. Như vậy, năng lực có thể được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào bối cảnh và mục đích sử dụng. Từ những quan điểm trên, chúng tôi cho rằng năng lực là khả năng giải quyết (thực hiện) một cách hiệu quả các vấn đề đặt ra của cuộc sống trên cơ sở hiểu biết về lí thuyết (nhận thức) của đối tượng.
Năng lực là nói đến khả năng đạt được một kết quả nhất định của một công việc cụ thể do một con người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, năng lực lao động, năng lực quan sát…). Năng lực không tồn tại chung chung, trừu tượng. Năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là tổ chức các thuộc tính độc đáo của nhân cách, là điểm hội tụ của những yếu tố như tri thức, kĩ năng, thái độ, kinh nghiệm, sẵn sàng hành động, trách nhiệm đạo đức… Năng lực không chỉ dừng ở hiểu biết của con người, mà quan trọng là sự ứng dụng nó bằng những hoạt động cụ thể trên cơ sở vận dụng kiến thức, kĩ năng phù hợp. Năng lực không phải là cái có sẵn, mang tính bẩm sinh mà bẩm sinh con người chỉ có những tư chất của năng lực.
Những tư chất này sẽ dần hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động. Hoạt động chính là cơ sở, là điều kiện cần thiết cho sự hình thành và phát triển năng lực. Nếu không tổ chức các hoạt động và con người không hoạt động thì năng lực không thể bộc lộ và phát triển. Trong đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập đến năng lực của cá nhân con người.
Một cách khái quát, có thể hiểu“năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí của con người đảm bảo thực hiện một hoạt động nào đó đạt được kết quả”. Hoặc “năng lực là sự tích hợp kiến thức, kĩ năng và sức lực bởi một thái độ đúng để thực hiện thành công một công việc nhất định, trong điều kiện nhất định”. Như vậy, dạy học chuyển từ hình thành và phát triển kiến thức sang hình thành và phát triển năng lực có nghĩa là mục tiêu của dạy học phải đảm bảo người học thực hiện được một công việc, giải quyết được một vấn đề, tình huống nào đó trong một điều kiện nhất định chứ không chỉ có những hiểu biết kiến thức rời rạc hoặc có kĩ năng đơn lẻ. Khái niệm phát triển năng lực Khái niệm “phát triển” có nhiều cách định nghĩa, xuất phát từ những cấp độ xem xét khác nhau.
Ở cấp độ chung nhất, “phát triển” [29] được hiểu là: 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Quá trình chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác hoàn thiện hơn, chuyển từ trạng thái chất lượng cũ đến tình trạng chất lượng mới, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao. - Phát triển là quá trình tăng trưởng hay lớn lên tự nhiên, phân hóa hoặc tiến hóa tự nhiên với những thay đổi liên tục, kế tiếp nhau. - Phát triển là sự tăng trưởng, mở rộng, tiến hóa một cách từ từ hoặc là kết quả của những nguyên nhân. Ngoài ra, phát triển còn có nghĩa là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp.
Như vậy, khái niệm “phát triển” có thể được hiểu theo hướng cải thiện tình trạng chất lượng từ cũ sang tình trạng chất lượng mới cho những đối tượng cần được phát triển, giúp họ nâng cao nhận thức và kỹ năng hoạt động trên cơ sở những kiến thức, kỹ năng đã có để bổ sung, hoàn thiện, phát triển năng lực và kỹ năng hoạt động theo yêu cầu cần đạt. Sự phát triển của năng lực nói chung, NLSD CNTT nói riêng được hiểu theo hai khía cạnh. Thứ nhất, sự phát triển là quá trình tăng dần về số lượng các kỹ năng, trên cơ sở các kỹ năng đã có sẽ hình thành và phát triển thêm các kỹ năng sử dụng CNTT mới. Thứ hai, sự phát triển là quá trình thay đổi về chất lượng các kỹ năng tức là trên cơ sở các kỹ năng đã được hình thành (biết hoặc có các kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng CNTT) sẽ phát triển lên mức độ cao hơn (sử dụng thành thạo).
Các biện pháp phát triển NLSD CNTT cho HS được đề xuất trong đề tài chủ yếu hướng đến việc nâng cao chất lượng NLSD CNTT đã có của HS lớp 10 ở trường THPT. Khái niệm năng lực sử dụng công nghệ thông tin NLSD CNTTlà một trong 9 năng lực chung được nhấn mạnh trong hệ thống giáo dục của nhiều quốc gia [9, tr. NLSD CNTT được mô tả bao gồm: a) Sử dụng đúng cách các thiết bị ICT (công nghệ thông tin) để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể; nhận biết các thành phần của hệ thống ICT cơ bản; sử dụng được các phần mềm hỗ trợ học tập thuộc các lĩnh vực khác nhau; tổ chức và lưu trữ dữ liệu vào các bộ nhớ khác nhau, tại thiết bị và trên mạng.