Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MỘT THÀNH VIÊN 1. Khái quát chung về công ty cổ phần truyền thống 1. Khái niệm và các đặc điểm của công ty cổ phần truyền thống Hình thức công ty cổ phần phôi thai từ thời La Mã cổ đại. Trong nền cộng hoà, những nhóm lợi ích phát triển một cách tự phát như sodalitas, universitas, collegium, societas., và được cổ vũ dưới sự cho phép của chính quyền [8, tr.
Đó là những thực thể tiền thân của công ty cổ phần. Ngày nay Luật Doanh nghiệp 2014 của Việt Nam định nghĩa: 1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn [20, Điều 110]. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Định nghĩa này cho thấy quan niệm của pháp luật Việt Nam không có sự thay đổi về công ty cổ phần kể từ khi hình thức công ty này du nhập vào Việt Nam. Nó luôn luôn được xem là hình thức công ty nhiều thành viên. Điểm đặc trưng quan trọng nhất của nó luôn luôn được khẳng định ở bất kỳ nơi nào trên thế giới là “cổ phần” (phần chia nhỏ nhất của vốn điều lệ công ty).
Ngô Huy Cương tổng kết lại những đặc điểm như sau về công ty cổ phần: thứ nhất, công ty cổ phần là loại công ty đối vốn, thuộc chế độ trách nhiệm hữu hạn; thứ hai, công ty cổ phần có cơ cấu tổ chức quản trị chặt chẽ mà trong đó mỗi cơ quan đều có quyền hạn riêng; thứ ba, công ty cổ phần được phép phát hành chứng khoán; thứ tư, các thành viên hay những người quản trị công ty đều không có tư cách thương nhân, bản thân công ty mới là thương nhân [8, tr. Mô hình công ty cổ phần truyền thống có thể được tóm tắt như sau: cổ phần (vốn điều lệ được chia ra thành những phần nhỏ nhất đều nhau);cổ đông (người nắm giữ cổ phần) và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu; cơ cấu quản trị chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi của cổ đông. Với mô hình này có thể nói: công ty cổ phần là hình thức công ty có hiệu quả nhất cho việc tập trung và tích tụ tư bản với quy mô và mức độ lớn hơn so với các hình thức công ty khác. Mô hình truyền thống này đã được định nghĩa trong Từ điển bách khoa (1995) của Việt Nam như sau: “Công ty cổ phần là loại hình công ty được hình thành trên cơ sở liên hợp nhiều tư bản cá nhân bằng cách phát hành và bán cổ phiếu, lợi nhuận của công ty được phân phối giữa các cổ đông theo số lượng cổ phần” [14].
Theo các Luật Doanh nghiệp của Việt Nam kể cả Luật Doanh nghiệp 2014, công ty cổ phần được gọi là doanh nghiệp mà trong đó các thành viên cùng nhau góp vốn, cùng nhau chia lợi nhuận, cùng nhau chịu lỗ tương ứng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình. Công ty cổ phần là tổ chức có tư cách pháp nhân, được hưởng quy chế pháp lý độc lập, tách biệt với các thành viên của công ty. Công ty và các thành viên của công ty là các chủ thể tách biệt. Sự tồn tại của công ty không phụ thuộc vào địa vị pháp lý của thành viên công ty.
Một hoặc thậm chí một cổ đông bị kết án tù, bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hoặc thậm chí bị chết cũng không ảnh hưởng đến tính chất và sự tồn tại của công ty. Đồng thời loại hình công ty này cũng là loại hình công ty có tính tổ chức cao, hoàn thiện về vốn, hoạt động mang tính xã hội hóa cao. Thông qua bộ máy được tổ chức chặt chẽ, công ty điều hành mọi công việc với đầy đủ quyền hạn và nghĩa vụ như một pháp nhân, khác hẳn với doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh mà tại đó trách nhiệm của doanh nghiệp gắn liền với cá nhân hoặc các cá nhân chủ sở hữu của chúng. Nếu chủ sở hữu chết hoặc bị tiêu tán tài sản thì cũng gây ảnh hưởng tới công ty.
Tuy công ty cổ phần truyền thống có nhiều đặc điểm pháp lý như trên, nhưng theo PGS. Ngô Huy Cương: Qua các đặc điểm này, có thể đưa ra một nhận xét rằng: việc chia vốn của công ty thành các cổ phần được tự do chuyển nhượng là hạt nhân lý luận căn bản của hình thức công ty này, từ đó dẫn tới sự phát triển logic pháp lý mà khiến nhà làm luật buộc phải quan tâm đặc biệt [8, tr. Đây là một gợi ý quan trọng cho việc nghiên cứu về công ty cổ phần một thành viên. TS Ngô Huy Cương cho rằng hạt nhân lý luận này vừa là sự thuận lợi cho việc lập luận có thể có hình thức công ty cổ phần một thành viên, nhưng đồng thời cũng là sự bất thuận lợi cho việc lập luận có một 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình thức công ty như vậy [9].
Điều đó có nghĩa là khi xây dựng chế định công ty cổ phần một thành viên phải xem xét tới các đặc điểm pháp lý của công ty cổ phần truyền thống (công ty nhiều thành viên) để lược bỏ những đặc điểm không cơ bản của công ty cổ phần loại này và bổ sung thêm những đặc điểm mà không làm mất bản chất của công ty cổ phần như trên đã nói. Dù sao không thể xa rời hạt nhân của công ty cổ phần chính là “cổ phần”. Công ty cổ phần đã có lịch sử phát triển khá lâu đời. Do đó thay đổi nhận thức về nó không phải là việc dễ dàng.
Nhưng khi muốn thay đổi nhận thức đó thì không thể không nói tới lịch sử của vấn đề. Các công ty cổ phần xuất hiện vào khoảng thế kỷ 18. Đến giữa thế kỷ 19 công ty cổ phần đã phát triển mạnh mẽ và rộng khắp ở các nước tư bản nhờ sự phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí và của chế độ tín dụng. Và nó mau chóng trở thành một hình thức công ty chiếm vị trí thống trị trong các ngành có số vốn đầu tư cao, quy mô sản xuất lớn.
Do tổ chức của công ty cổ phần có số lượng thành viên đông, công ty lại có quyền công khai thu hút vốn trong công chúng nên công ty cổ phần chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn so với các hình thức công ty khác từ việc thành lập, đến tổ chức và điều hành cũng như huy động vốn. Rõ ràng sự ra đời của hình thức công ty cổ phần không phụ thuộc vào ý chí chủ quan, mà dựa trên sự đòi hỏi của thực tiễn khách quan - đó là nền kinh tế thị trường mà tại đó cần tới sự tích tụ vốn lớn, tăng cường sức cạnh tranh, và có khả năng chia sẻ rủi ro cao. Công ty cổ phần có thể đáp ứng tốt cho các nhu cầu đó bởi là loại hình công ty có tính tổ chức cao, hoàn thiện về vốn, hoạt động mang tính xã hội hoá cao. Công ty cổ phần có số lượng thành viên rất đông do vậỵ có khả năng huy động vốn rộng rãi nhất trong công chúng, có thể đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Công ty cổ phần đầu tiên xuất hiện ở Anh năm 1602 là Công ty Đông Ấn với hình thức rất đơn giản: các thành viên góp vốn theo từng chuyến đi biển, sau mỗi chuyến đi các thành viên tham gia nhận lại vốn của mình và tiền lãi. Nếu gặp rủi ro thì các thành viên chịu thiệt hại tương ứng với phần vốn mình đã góp. Đến cuối thế kỷ XVII, các ngân hàng đã bắt đầu tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần. Cuối thế kỷ XVIII cho tới đầu thế kỷ XIX các doanh nghiệp giao thông vận tải cũng đã bắt đầu được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần.
Cuộc cách mạng công nghiệp đầu thế kỷ XX đã thúc đẩy cho sự ra đời của rất nhiều công ty cổ phần trong hầu hết lĩnh vực kinh tế ở nhiều nước phát triển. Hình thức công ty cổ phần xuất hiện ở Đức khá sớm. Luật Công ty cổ phần của Đức được ban hành năm 1870, sau đó được bổ sung sửa đổi bởi Bộ luật Thương mại 1897, sau này được thay thế bằng Luật Công ty cổ phần 1965 và nay lại được sửa đổi cho phù hợp với sự gia nhập Cộng đồng Châu Âu. Bộ luật Thương mại 1807 của Pháp đã đề cập tới hình thức công ty cổ phần.
Đầu thiên niên kỷ XX này rất nhiều công cuộc cải cách pháp luật về công ty diễn ra trên thế giới để đáp ứng các nhu cầu của toàn cầu hóa và tự do kinh doanh. Điển hình cho các công cuộc cải cách này là ở Anh và ở Nhật Bản. Các đạo luật công ty của hai nước này được ban hành năm 2006 có nhiều điểm rất đáng lưu ý mà trong đó có việc thừa nhận công ty cổ phần một thành viên. Khi chuyển nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có định hướng ở Việt Nam, hình thức công ty cổ phần mới được công nhận là hình thức pháp lý để tiến hành hoạt động kinh doanh.
Năm 1990 Việt Nam ban hành Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân. Đây là cơ sở pháp lý cho việc thành lập công ty nói chung và công ty cổ phần nói riêng. Cả hai đạo luật trên đã được bổ sung sửa đổi một lần vào năm 1994 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhưng vẫn chưa khắc phục được những thiếu sót, bất cập.