Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI HÀNH HẠ NGƯỜI KHÁC TRONG LUẬT HÌNH SỰ 1. Những khái niệm có liên quan 1. Khái niệm hành hạ người khác Để hiểu thế nào là tội hành hạ người khác trước tiên ta phải hiểu thế nào là hành hạ người khác. Hiện nay, trong Bộ luật hình sự, các sách pháp lý cũng như trong các tài liệu pháp luật đều không định nghĩa cụ thể thế nào là hành hạ người khác mà nó chỉ được đề cập một cách gián tiếp.
Theo từ điển tiếng việt thì hạnh hạ có nghĩa là làm cho đau đớn, khổ sở [27, tr. Theo thuật ngữ pháp lý của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng định nghĩa “Hành hạ là hành vi đối xử tàn ác với người khác như đánh đập, ức hiếp, ngược đãi người đó. Hành vi đối xử tàn ác thường lặp đi, lặp lại nhiều lần”.1 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA- TANDTC-VKSNDTC cũng có hướng dẫn về hành vi ngược đãi: “7. Hành vi ngược đãi, hành hạ thông thường được hiểu là việc đối xử tồi tệ về ăn, mặc, ở và về các mặt sinh hoạt hàng ngày khác đối với người thân như: nhiếc móc, bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách một cách không bình thường hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể người bị hại như: đánh đập, giam hãm,.
làm cho người bị hại bị đau đớn về thể xác và tinh thần” [41]. Theo định nghĩa và hướng dẫn tại các tài liệu trên có thể hiểu hành hạ người khác là việc thực hiện các hành vi mang tính tàn ác, dã man với một người nào đó như: đánh đập, mắng chửi, bắt nhịn ăn, bắt ăn những đồ vật không dành cho người ăn…, và cũng có thể hiểu theo chiều ngược lại là các hành vi đối xử tàn ác với nạn nhân không nhằm mục đích cướp đoạt tính mạng hay cố ý gây thương tích nặng cho nạn nhân mà mục đích chính của 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người phạm tội là hành hạ người bị hại. Những hành vi này thường diễn ra liên tục và kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định. Từ định nghĩa về hành hạ trong các sách pháp lý và điều luật thì có thể định nghĩa hành hạ người khác như sau : Hành hạ người khác là hành vi của một người đối xử tàn ác với người lệ thuộc vào mình một cách có hệ thống và lặp đi lặp lại nhiều lần gây đau đớn về thể xác, đè nén, áp bức về tinh thần họ.
Khái niệm tội hành hạ người khác Con người là vốn quý của xã hội, là đối tượng được pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng bảo vệ đặc biệt.MAC đã viết: “Bản chất của con người không phải là cái trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa của những mối quan hệ xã hội” [48, tr. Bảo vệ con người, trước hết là bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng với mỗi con người. Hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự của con người sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Thể hiện thông qua việc BLHS quy định một loạt các hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người là hành vi phạm tội và biện pháp trừng trị với những hành vi phạm tội đó.
Năm 1985 Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam ra đời. Ngay trong Bộ luật hình sự đầu tiên đã đề cập một cách chính thức và rõ rõ ràng về tội hành hạ người khác: “Người nào đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm, hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm”. Bộ luật Hình sự năm 1999 tiếp tục hoàn thiện quy định về tội hành hạ người khác, cụ thể tại khoản 1 điều 110 quy định “ Người nào đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”. Như vậy ở đây 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tên điều luật là “ Tội hành hạ người khác “ nhưng cả Bộ luật Hình sự năm 1985 và năm 1999 đều không trực tiếp định nghĩa “ Tội hành hạ người khác ” là gì mà chỉ mô tả trực tiếp về hành vi hành hạ người khác.
Thế nào là tội hành hạ người khác? Để hiểu thế nào là tội hành hạ người khác ta phải hiểu thế nào là tội phạm. Điều 8 Bộ Luật hình sự định nghĩa về tội phạm như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa" [1, tr 43]. Như vậy một hành vi là tội phạm khi hành vi được coi là tội phạm khi nó thỏa mãn các yếu tố như: hành vi đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, người thực hiện hành vi phải là người có năng lực TNHS, người thực hiện hành vi phải là người có lỗi, xâm phạm đến quan hệ xã hội cụ thể được Luật Hình sự bảo vệ. Theo phân tích ở trên thì hành hạ là việc thực hiện hành vi như đánh đập, tra tấn, bắt nhịn ăn, nhịn mặc.
Hành vi này rất đa dạng. Tại khoản 1 Điều 110 BLHS năm 1999 quy định về tội hành hạ người khác thì điểm nổi bật của hành vi hành hạ này là hành vi đối xử tàn ác với người bị lệ thuộc vào mình; hành vi này kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định và lặp đi lặp lại nhiều lần với mục đích là hành hạ người lệ thuộc vào mình. Hậu quả của nó là làm cho người bị lệ thuộc đau đớn về thể xác và tinh thần. Từ những phân tích và định nghĩa về hành hạ người khác tại mục 1.1 của Luận văn, kết hợp với định nghĩa tội phạm được quy định trong Bộ Luật 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình sự ta có thể định nghĩa tội hành hạ người khác như sau: tội hành hạ người khác là hành vi đối xử tàn ác với người lệ thuộc vào mình, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác được quy định trong Bộ luật hình sự.
Tội hành hạ người khác là một tội phạm nên nó phải thỏa mãn các đặc điểm của tội phạm nói chung. Một hành vi phạm tội hành hạ người khác trước hết hành vi của người đó phải có tính nguy hiểm cho xã hội, tức là nó phải gây ra hoặc de dọa gây ra những thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ [4, tr 59]. Trong tội hành hạ người khác hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi đối xử tác ác với người lệ thuộc vào mình. Hành vi đối xử tàn ác này có thể là đánh đập, tra tấn, chửi rủa.
Hành vi này xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người, các quan hệ được Pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi này gây nên những thiệt hại nhất định cho người, đó là tổn hại về sức khỏe ở mức độ nhất định hoặc tổn hại về tinh thần cho người bị hành hạ. Hành vi đối xử tàn ác này phải là với người có quan hệ lệ thuộc vào người thực hiện hành vi phạm tội. Đây là một trong những đặc trưng nổi bật nhất của tội này.
Theo đó một người chỉ phạm vào tội này nếu nạn nhân có mối quan hệ lệ thuộc với người thực hiện hành vi hành hạ. Nếu một người hành hạ người khác mà không có mối quan hệ lệ thuộc thì tùy vào tính chất của hành vi mà phạm vào tội khác do bộ luật quy định. Mối quan hệ lệ thuộc này có thể là lệ thuộc vào công việc, tôn giáo tín ngưỡng, giáo dục. Được quy định trong BLHS.
Cụ thể tại điều 110 BLHS năm 1999 có quy định một cách chính thức, rõ ràng về hành vi hành hạ người khác. Việc nhà làm luật quy định chỉ những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS mới là tội phạm nhằm gạt bỏ việc áp dụng nguyên tắc tương tự. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chỉ có duy nhất quy định trong BLHS mới là tội phạm, ngoài BLHS ra không có văn bản nào khác được quy định tội phạm [4, tr60]. Chủ thể của tội hành hạ người khác phải là người có năng lực TNHS.
Tức người thực hiện hành vi đối xử tàn ác này với người lệ thuộc vào mình phải có năng lực TNHS. Bộ luật hình sự không quy định thế nào là có năng lực TNHS mà chỉ quy định tình trạng không có năng lực TNHS. Theo đó, một người hực hiện hành vi đối xử tàn ác với người lệ thuộc vào mình có năng lực TNHS tức là người đó phải đủ tuổi quy định BLHS, có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của mình. Người thực hiện hành vi đối xử tàn ác phải có lỗi.
Với tội hành hạ người khác thì lỗi của người phạm tội luôn là lỗi cố ý. Trong luật hình sự năm 1999 có quy định về cố ý phạm tội là thuộc một trong các trường hợp như sau: "1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc hậu quả xảy ra" [1, tr44].
Lỗi của người phạm tội có thể là cố ý trực tiếp, tức là người thực hiện hành vi hành hạ thấy trước được hậu quả của tội phạm và mong muốn hậu quả đó xảy ra. Ví dụ gia đình chị A mở quán bán hàng có thuê em H làm giúp việc cho nhà mình.