Tổng quan nghiên cứu

Chính sách an sinh xã hội giữ vai trò trụ cột trong việc ổn định đời sống nhân dân, đặc biệt là đối với lực lượng lao động tự do tại các vùng nông thôn và miền núi. Sau hơn 5 năm thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, quy mô tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên phạm vi cả nước mới chỉ đạt khoảng 150.000 người, chiếm vỏn vẹn 0,57% tổng số lao động thuộc diện áp dụng. Tại tỉnh Thái Nguyên, nơi có lực lượng lao động trong độ tuổi lên tới 779.000 người, tỷ lệ người dân tham gia loại hình này trong giai đoạn đầu cũng chỉ chiếm khoảng 0,18%, phản ánh khoảng cách rất lớn giữa mục tiêu chính sách và thực tiễn triển khai.

Thái Nguyên là trung tâm chính trị, kinh tế của vùng trung du miền núi Đông Bắc với 9 đơn vị hành chính gồm 180 xã, phường, thị trấn, trong đó có tới 125 xã vùng cao và miền núi. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn bắt nguồn từ thực trạng thu nhập của người dân khu vực nông nghiệp còn bấp bênh, việc làm phi chính thức chiếm tỷ trọng lớn, trong khi quy định pháp luật về thời gian đóng tối thiểu 20 năm cùng mạng lưới đại lý cơ sở mỏng đã tạo rào cản đáng kể cho việc tiếp cận chính sách an sinh. Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa khung lý luận pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện, phân tích thực chứng bức tranh thực thi tại Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2014, bóc tách các điểm nghẽn về cơ chế chính sách, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao tỷ lệ bao phủ an sinh lên mức 2% đến 3% lực lượng lao động trong những năm tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng Công ước số 102 năm 1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế về an toàn xã hội tối thiểu, xác định trách nhiệm bảo vệ của xã hội đối với người lao động trước các rủi ro làm suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập. Luận văn kết hợp mô hình hệ thống an sinh xã hội đa tầng, trong đó bảo hiểm xã hội tự nguyện đóng vai trò là tầng bảo vệ thiết yếu dành cho khu vực lao động phi chính thức.

Khung phân tích vận dụng các khái niệm pháp lý cốt lõi gồm quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện, nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý, nguyên tắc tôn trọng quyền tự do ý chí và nguyên tắc linh hoạt trong đóng hưởng. Theo đó, bản chất của bảo hiểm xã hội tự nguyện là quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung hình thành từ sự đóng góp của người lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước. Về chế độ thụ hưởng, luận văn tập trung vào hai chế độ trụ cột là chế độ hưu trí với thời gian đóng tối thiểu 20 năm và chế độ tử tuất với mức trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương cơ sở cùng trợ cấp tuất một lần bằng 1,5 tháng mức bình quân thu nhập cho mỗi năm tham gia.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu khoa học, tác giả thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ các báo cáo quyết toán tài chính định kỳ, báo cáo tổng kết chuyên môn của cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2014, kết hợp các tài liệu thống kê kinh tế xã hội tại 9 huyện, thành phố, thị xã và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, Nghị định số 190/2007/NĐ-CP, Thông tư số 02/2008/TT-BLĐTBXH và dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

Về phương pháp phân tích, luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh đối chiếu chuỗi thời gian 6 năm liên tục. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 2.122 đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh tính đến hết năm 2014. Việc lựa chọn phương pháp phân tích so sánh chuỗi thời gian cho phép làm rõ tốc độ gia tăng đối tượng từ mức 490 người năm 2009 lên 2.122 người năm 2014, đánh giá tương quan giữa cơ cấu kinh tế địa phương với khả năng tài chính của người dân, qua đó đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học của các kết luận rút ra.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Thái Nguyên có xu hướng tăng trưởng nhanh qua từng năm nhưng quy mô tổng thể vẫn còn rất khiêm tốn. Năm 2009, toàn tỉnh mới ghi nhận 490 người tham gia; đến năm 2010 tăng lên 711 người (tăng hơn 45%); năm 2011 đạt 969 người; năm 2012 đạt 1.352 người; năm 2013 đạt 1.662 người và đến năm 2014 đạt 2.122 người, tăng gấp hơn 4,3 lần so với năm 2009. Dù vậy, tổng số 2.122 người tham gia chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 0,27% so với 779.000 người trong độ tuổi lao động của toàn tỉnh.

Thứ hai, có sự phân hóa sâu sắc về tỷ lệ tham gia giữa các khu vực địa lý và nhóm thu nhập. Tại huyện miền núi Võ Nhai, một trong những địa bàn khó khăn nhất của tỉnh, chỉ có vỏn vẹn 24 người tham gia trong suốt giai đoạn khảo sát. Kết quả điều tra xã hội học chỉ ra rằng nhóm lao động từ 30 đến 45 tuổi có mức thu nhập trung bình khá từ 1,15 đến 3 triệu đồng mỗi tháng có nhu cầu và khả năng tham gia cao nhất, trong khi nhóm có thu nhập dưới 1,15 triệu đồng mỗi tháng hầu như không thể tiếp cận chính sách.

Thứ ba, động lực tham gia chủ yếu gắn liền với cơ chế liên thông từ bảo hiểm xã hội bắt buộc sang tự nguyện. Số lượng đối tượng tích lũy đủ số năm đóng để hưởng chế độ hưu trí tăng từ 115 trường hợp năm 2009 lên 241 trường hợp vào năm 2011. Đa số những người này trước đó đã có từ 10 đến 15 năm tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, sau đó tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện để hoàn thành điều kiện 20 năm đóng nhằm nhận lương hưu hàng tháng.

Thứ tư, hạ tầng tổ chức thực hiện tại cơ sở còn thiếu hụt nghiêm trọng. Toàn tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn nghiên cứu chỉ có gần 30 cộng tác viên bảo hiểm tại các xã, phường (chủ yếu là cán bộ văn hóa xã) kiêm nhiệm đại lý bảo hiểm y tế tự nguyện với mức thù lao hỗ trợ 100.000 đồng mỗi người một tháng. Các xã chưa hề có đại lý thu bảo hiểm xã hội tự nguyện chuyên trách, buộc người dân muốn đăng ký phải trực tiếp đi hàng chục cây số xuống cơ quan bảo hiểm xã hội cấp huyện hoặc thành phố.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của việc tỷ lệ bao phủ an sinh chưa cao bắt nguồn từ các quy định pháp luật còn thiếu linh hoạt. Điều kiện bắt buộc phải đóng đủ 20 năm mới được hưởng lương hưu đã triệt tiêu động lực tham gia của nhóm lao động nam trên 45 tuổi và nữ trên 40 tuổi, bởi họ nhận thấy khó có cơ hội tích lũy đủ thời gian đóng khi đã bước vào độ tuổi xế chiều. Thêm vào đó, khoảng 70% lực lượng lao động địa phương làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp với tính chất thời vụ, thu nhập bấp bênh nên mức đóng 16% đến 22% mức thu nhập lựa chọn vẫn là gánh nặng tài chính đáng kể.

Những dữ liệu trên phản ánh rõ nét qua các bảng thống kê tăng trưởng đối tượng và cơ cấu nguồn thu của Quỹ bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009 - 2014. Khi so sánh với các nghiên cứu kinh tế xã hội cùng thời kỳ, kết quả này củng cố luận điểm rằng chính sách an sinh chỉ có thể thành công khi đi kèm cơ chế hỗ trợ tài chính trực tiếp từ ngân sách nhà nước và đơn giản hóa tối đa thủ tục hành chính tại tuyến cơ sở.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, kiến nghị Quốc hội và các cơ quan trung ương sửa đổi quy định pháp luật theo hướng tăng tính linh hoạt cho chế độ hưu trí. Cần hạ điều kiện thời gian đóng tối thiểu từ 20 năm xuống 15 năm, đồng thời cho phép người lao động được đóng một lần cho những năm còn thiếu đối với người sắp đến tuổi nghỉ hưu. Biện pháp này hướng tới mục tiêu thu hút nhóm lao động trung niên từ 40 đến 50 tuổi tham gia ngay trong giai đoạn 2016 - 2018.

Thứ hai, triển khai cơ chế hỗ trợ ngân sách nhà nước trực tiếp cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên và các bộ ngành cần xây dựng chính sách trích ngân sách hỗ trợ tối thiểu 30% mức đóng chuẩn nghèo nông thôn cho người thuộc hộ nghèo, 25% cho hộ cận nghèo và 10% cho các đối tượng khác, phấn đấu đạt chỉ tiêu nâng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm xã hội tự nguyện lên mức 1,5% đến 2% tổng lực lượng lao động trước năm 2020.

Thứ ba, xây dựng và hoàn thiện mạng lưới đại lý thu bảo hiểm xã hội tự nguyện phủ khắp 180 xã, phường, thị trấn trên địa bàn toàn tỉnh. Cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Nguyên cần tích hợp điểm thu bảo hiểm xã hội tự nguyện với đại lý bảo hiểm y tế tại trạm y tế và bưu điện xã, nâng mức phụ cấp trách nhiệm cho cộng tác viên từ mức 100.000 đồng hiện tại lên tỷ lệ hoa hồng từ 3% đến 5% trên số tiền thu được từ năm 2016.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác tuyên truyền và đổi mới phương thức thu nộp. Cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh cần phối hợp chặt chẽ với Hội Nông dân và Hội Liên hiệp Phụ nữ tổ chức các đợt tuyên truyền lưu động tại 125 xã vùng cao, cho phép người dân lựa chọn đóng định kỳ 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng hoặc đóng theo mùa vụ thu hoạch nông sản nhằm duy trì tính bền vững của dòng tiền đóng quỹ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn và học thuật cao cho 4 nhóm đối tượng sau:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và hệ thống cơ quan Bảo hiểm xã hội tại địa phương. Luận văn cung cấp bức tranh thực chứng về các rào cản chính sách tại địa bàn trung du miền núi, giúp các nhà quản lý hoàn thiện quy trình tổ chức thu, phát triển mạng lưới đại lý cơ sở và xây dựng đề án an sinh xã hội phù hợp với điều kiện kinh tế từng vùng.

Thứ hai, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học ngành Luật kinh tế, Luật an sinh xã hội và Quản lý công. Luận văn là nguồn tư liệu phong phú phân tích sự chuyển dịch lập pháp từ Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 sang Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thông qua chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 2008 - 2014.

Thứ ba, cán bộ công đoàn, cán bộ cơ sở và các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội. Tài liệu cung cấp cơ sở lý luận và hướng dẫn thực tiễn để tư vấn, vận động đoàn viên, nông dân và phụ nữ tích cực tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện nhằm đảm bảo an sinh khi hết tuổi lao động.

Thứ tư, người lao động tự do, lao động khu vực phi chính thức và các chủ hộ kinh doanh cá thể. Luận văn giúp người lao động hiểu rõ quyền lợi hưu trí, trợ cấp tử tuất và cơ chế bảo lưu, liên thông thời gian đóng bảo hiểm để chủ động hoạch định kế hoạch an sinh lâu dài cho bản thân.

Câu hỏi thường gặp

Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện hàng tháng được quy định như thế nào? Theo quy định pháp luật, mức đóng hàng tháng bằng 22% mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn. Mức thu nhập làm căn cứ đóng được giới hạn thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở, tạo điều kiện cho người dân tự do cân đối theo khả năng tài chính thực tế.

Người đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng nghỉ việc có được chuyển sang đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện không? Người lao động hoàn toàn được quyền chuyển đổi. Pháp luật cho phép liên thông và cộng dồn toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc với bảo hiểm xã hội tự nguyện để tính hưởng lương hưu. Thực tế tại Thái Nguyên giai đoạn 2009 - 2014 đã có hơn 241 trường hợp vận dụng cơ chế này để nhận lương hưu hàng tháng.

Chế độ tử tuất trong bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm những khoản trợ cấp nào? Thân nhân của người tham gia được hưởng hai quyền lợi chính gồm trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương cơ sở khi người lao động đã đóng từ đủ 5 năm trở lên, và trợ cấp tuất một lần tính bằng 1,5 tháng mức bình quân thu nhập đóng bảo hiểm cho mỗi năm tham gia.

Vì sao tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện tại các huyện miền núi còn thấp? Nguyên nhân chủ yếu do thu nhập của đại bộ phận nông dân còn thấp (dưới 1,15 triệu đồng mỗi tháng) và mang tính mùa vụ. Ngoài ra, mạng lưới đại lý cấp xã còn thiếu thốn, đơn cử như huyện Võ Nhai chỉ có 24 người tham gia do người dân e ngại việc phải đi lại xa xôi để nộp tiền.

Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện có thể lựa chọn những phương thức đóng nào? Người lao động có quyền lựa chọn đóng định kỳ hàng tháng, 3 tháng, 6 tháng hoặc 12 tháng một lần. Ngoài ra, người tham gia còn có thể chọn đóng một lần cho nhiều năm về sau hoặc đóng một lần cho những năm còn thiếu để đủ điều kiện nhận lương hưu ngay khi hết tuổi lao động.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và pháp lý về bảo hiểm xã hội tự nguyện theo chuẩn mực quốc tế và thực tiễn lập pháp Việt Nam.
  • Đánh giá thực chứng tiến trình thực thi tại Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2014 với sự gia tăng đối tượng tham gia từ 490 người lên 2.122 người.
  • Bóc tách rõ các điểm nghẽn về rào cản thời gian đóng 20 năm, thu nhập nông nghiệp bấp bênh và sự thiếu hụt mạng lưới đại lý thu tại 180 xã phường.
  • Đề xuất hệ sinh thái 4 giải pháp đồng bộ kết hợp sửa đổi quy định pháp luật, hỗ trợ tài chính từ ngân sách và mở rộng đại lý cơ sở trước năm 2020.
  • Đóng vai trò là tài liệu tham khảo khoa học giá trị phục vụ hoàn thiện chính sách an sinh xã hội cho khu vực miền núi; các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp tục mở rộng mô hình phân tích cho các tỉnh trung du Đông Bắc.