Lời mở đầu “Giải thích các chuẩn mực kiểm toán” của Vương quốc Anh, một khái niệm được đưa ra, “kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan”. Theo các chuyên gia kiểm toán Hoa Kỳ, “kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc lập có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá rõ ràng về thông tin có thể 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lượng hóa có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hóa với những tiêu chuẩn đã được xác lập” [26]. Theo các chuyên gia kiểm toán ở Pháp, “kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là một kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình tài chính thực tế, không che giấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định” [28]. Hiện nay, có một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi, đó là “kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập.
Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập” [27]. Qua các khái niệm trên, có thể thấy được các yếu tố cơ bản của kiểm toán như sau: - Chủ thể của hoạt động kiểm toán: là những kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập. Năng lực của kiểm toán viên là trình độ nghiệp vụ đã được đào tạo cùng với kinh nghiệm thực tế tích lũy giúp cho kiểm toán viên có khả năng xét đoán, phân tích trong từng trường hợp kiểm toán cụ thể. Sự độc lập của kiểm toán viên là một yêu cầu tối quan trọng để thực hiện kiểm toán một cách khách quan, tạo ra niềm tin đối với người sử dụng thông tin kiểm toán.
- Khách thể của kiểm toán: là một thực thể kinh tế hay một tổ chức được kiểm toán. Thực thể kinh tế hay tổ chức ở đây được hiểu là một thực thể pháp lý. - Đối tượng trực tiếp của kiểm toán: là các thông tin được kiểm tra, có thể là báo cáo tài chính, tờ khai nộp thuế, quyết toán ngân sách…. của tổ chức được kiểm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
- Cơ sở thực hiện kiểm toán: là những tiêu chuẩn đã được thiết lập. Chúng có thể thay đổi tùy theo thông tin được kiểm tra trong mỗi cuộc kiểm toán. Chúng có thể là chế độ kế toán hiện hành , có thể là Luật thuế, …. - Bằng chứng kiểm toán: là các thông tin để chứng minh cho ý kiến của kiểm toán viên.Quá trình kiểm toán bao gồm việc thu thập bằng chứng cần thiết và đánh giá tính thích hợp cho việc đưa ra các ý kiến nhận xét trên báo cáo kiểm toán.
Bằng chứng kiểm toán có thể là các tài liệu kế toán của tổ chức được kiểm toán, cũng có thể là chứng cứ riêng của kiểm toán viên. Hoạt động kiểm toán có thể được phân loại theo mục đích hoặc theo chủ thể kiểm toán. Theo mục đích kiểm toán thì kiểm toán gồm: kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán báo cáo tài chính. Theo chủ thể kiểm toán thì kiểm toán bao gồm: kiểm toán Nhà nước, kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập.
b, Khái niệm kiểm toán độc lập Kiểm toán độc lập là một loại kiểm toán được tiến hành bởi các kiểm toán viên thuộc những tổ chức kiểm toán độc lập. Họ thường thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính và cung cấp một số dịch vụ liên quan tùy theo nhu cầu của khách hàng, chẳng hạn như kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động, tư vấn tài chính kế toán….[15, tr5] Kiểm toán độc lập là một hoạt động đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Ở các nước phát triển, hoạt động kiểm toán độc lập hình thành trước cả khi có những chuẩn mực riêng về kiểm toán và kiểm toán viên. Lịch sử hình thành hoạt động kiểm toán độc lập trên thế giới Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, hoạt động kiểm toán đã có từ rất lâu đời.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kiểm toán ra đời vào khoảng thế kỷ thứ ba trước Công nguyên. Ban đầu, mục đích của kiểm toán độc lập là phát hiện gian lận và sai phạm trong hoạt động quản lý tài chính, sau đó dần dần chuyển sang mục đích mới là nhận xét về mức độ trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính. Khi đó, báo cáo kiểm toán không chỉ phục vụ cho các đối tượng chủ sở hữu mà còn phục vụ cho nhu cầu của một bên thứ ba khi họ cần đánh giá về độ tin cậy của báo cáo tài chính. Đầu thế kỷ 20, hàng loạt tổ chức tín dụng, tài chính ở Tây Âu và Bắc Mỹ đã phá sản.
Nó thể hiện sự yếu kém của hệ thống kế toán và chức năng tự kiểm tra của kế toán.Từ đó, thể thức kiểm tra ngoài kế toán càng thể hiện rõ vai trò của nó để đáp ứng nhu cầu quản lý ngày càng cao. Hoạt động kiểm toán độc lập giúp thực hiện thể thức này một cách hiệu quả. Thông qua quá trình hoạt động thực tiễn, dần dần các kiểm toán viên, các tổ chức kiểm toán đã xây dựng những phương thức kiểm toán ngày càng hiệu quả. Bước sang thế kỷ 21, trong tiến trình toàn cầu hóa, kiểm toán nói chung và đặc biệt là kiểm toán độc lập nói riêng đã thể hiện rõ vai trò của nó, nhất là với thị trường tài chính thế giới.
Hoạt động đầu tư tài chính vượt ra khỏi biên giới quốc gia đã làm tăng nhu cầu đảm bảo độ tin cậy của thông tin tài chính. Vì vậy, người ta cần đến kiểm toán độc lập ngày một nhiều hơn và kiểm toán độc lập ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Vai trò của hoạt động kiểm toán độc lập Do nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển đã tạo nên hệ quả là khả năng nhận được những thông tin tài chính kém tin cậy cũng sẽ gia tăng. Rủi ro về thông tin gia tăng xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, như là: Thứ nhất, sự khó khăn trong việc tiếp cận nguồn thông tin.
Điều này làm tăng rủi ro có thông tin bị sai lệch khi được cung cấp cho những người sử dụng. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ hai, động cơ của người cung cấp thông tin: Những người này thường có xu hướng trình bày thông tin theo chiều thuận lợi nhất cho mình. Chẳng hạn khi doanh nghiệp bán cổ phần, các thông tin về doanh lợi, lợi nhuận… có thể sẽ bị khai tăng giả tạo, hay không được cung cấp đầy đủ… Thứ ba, lượng thông tin phải xử lý và độ phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế gia tăng, nhất là khi mà hoạt động kinh doanh ngày càng đa dạng, quy mô của các tổ chức càng lớn. Chính vì thế, cần có những giải pháp để làm giảm rủi ro , trong đó giải pháp kiể m toán được xem là có hiệu quả nhất vì với kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp và sự độc lập của mình, kiểm toán viên độc lập sẽ cung cấp sự đánh giá về độ tin cậy của báo cáo tài chính, đồng thời giúp tiết kiệm chi phí kiểm tra cho đông đảo người sử dụng Đứng ở góc độ xã hội, hoạt động kiểm toán độc lập với báo cáo tài chính, khi được luật pháp quy định sẽ trở thành một công cụ giúp bảo vệ sự ổn định nền kinh tế, đặc biệt đối với các quốc gia mà thị trường chứng khoán giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Tại các quốc gia này, luật pháp quy định các công ty cổ phần niêm yết giá ở thị trường chứng khoán khi công bố các báo cáo tài chính hàng năm phải đính kèm báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên độc lập. Một số quốc gia còn mở rộng đối tượng kiểm toán bắt buộc (thường gọi là kiểm toán theo luật định) cho các doanh nghiệp khác khi mà quy mô doanh nghiệp lớn hơn một mức độ nào đó [15, tr11-12]. Kiểm toán độc lập là công cụ kiểm tra, kiểm soát, quản lý hữu hiệu không chỉ của các cơ quan nhà nước mà còn của chính bản thân các doanh nghiệp. Đồng thời, nó là cầu nối giữa các doanh nghiệp với các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin để ra những quyết sách kinh tế.
Mặt khác, ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của các doanh nghiệp thì sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Do 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đó, kiểm toán độc lập trở thành một nhu cầu thiết yếu của xã hội, từ nhiều góc độ khác nhau. Đặc điểm của hoạt động kiểm toán độc lập Hoạt động kiểm toán độc lập là một hoạt động đặc biệt. Nó là hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kiểm toán đồng thời là công cụ giúp công chúng đánh giá độ tin cậy của thông tin tài chính.
Kết quả kiểm toán vừa phục vụ khách hàng, vừa phục vụ lợi ích chung của xã hội. Vì vậy, kiểm toán độc lập có những đặc điểm: - Lấy lợi ích của đông đảo người sử dụng làm mục tiêu và mục đích hoạt động. Mỗi một cuộc kiểm toán khi được tiến hành trước tiên là theo nhu cầu của khách hàng nhưng kết quả của cuộc kiểm toán thì không chỉ có đơn vị được kiểm toán sử dụng. Vì mục đích của đơn vị được kiểm toán là nhằm khẳng định “giá trị bản thân” thông qua một báo cáo kiểm toán “đẹp” nên sản phẩm cuối cùng của một cuộc kiểm toán là báo cáo kiểm toán sẽ được công khai cho nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng.
Chẳng hạn như các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng, các nhà quản lý, người lao động…. Chất lượng của một cuộc kiểm toán ảnh hưởng rất lớn đến quyết định và hoạt động của các đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán. Vì thông qua báo cáo kiểm toán, các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính có thể đánh giá tình trạng tài chính của đơn vị được kiểm toán để từ đó đưa ra quyết định đầu tư của họ.