CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI QUẢN LÝ VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN 1. Khái niệm người quản lý trong công ty TNHH một thành viên 1. Định nghĩa người quản lý trong công ty TNHH một thành viên Bất cứ doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển đều cần phải chú trọng đến vấn đề quản trị nội bộ công ty. Một trong những vấn đề quan trọng liên quan đến quản trị công ty đó là thiết lập bộ máy tổ chức quản lý điều hành công ty.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên cũng không phải là một ngoại lệ. Đây là một loại hình doanh nghiệp tương đối đặc biệt, chỉ có duy nhất một chủ sở hữu và chủ sở hữu công ty có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Do vậy mô hình quản trị công ty tùy thuộc vào đối tượng thành lập công ty là ai và ai sẽ là người chịu trách nhiệm “lèo lái” công ty? Bởi lẽ công ty là một thực thể pháp lý độc lập, mọi hoạt động của công ty phải thực hiện thông qua người đại diện. Xác định đúng ai là người quản lý công ty và quy định hợp lý các nghĩa vụ pháp lý phát sinh cho họ sẽ góp phần cho việc quản trị công ty có hiệu quả, kiểm soát các giao dịch tư lợi nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu cũng như các bên có liên quan khác như người lao động trong công ty, chủ nợ, khách hàng của công ty… Trong Luật doanh nghiệp 2005, người quản lý doanh nghiệp được quy định tại Khoản 13 Điều 4 như sau: “ Người quản lý là chủ sở hữu, Giám đốc doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty Hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc Tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác do Điều lệ công ty quy định”.
Theo cách tiếp cận của Luật doanh nghiệp 2005 thì người quản lý trong công ty TNHH một thành viên gồm có: “ Chủ tich Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác do điều lệ công ty quy định”. Công ty TNHH một thành viên có đặc trưng là Chủ sở hữu công ty có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Nên việc xác định người quản lý trong công ty này còn tùy thuộc vào đối tượng thành lập công ty. Trường hợp Chủ sở hữu công ty là một tổ chức (pháp nhân) thì tổ chức này sẽ ủy quyền cho một hoặc một số người đại diện cho tổ chức để thực hiện việc quản lý công ty.
Người quản lý sẽ là Chủ tịch Hội đồng thành viên nếu có ít nhất từ 2 người trở lên được cử làm đại diện cho chủ sở hữu, hoặc là Chủ tịch công ty nếu chỉ có một người được ủy quyền đại diện cho chủ sở hữu công ty. Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty sẽ bổ nhiệm hoặc thuê Giám đốc (Tổng giám đốc) để điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Những người giữ các chức danh quản lý trên được coi là người quản lý trong công ty. Đối với trường hợp chủ sở hữu công ty là cá nhân thì người quản lý là Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty, chủ sở hữu công ty lúc này đồng thời là Chủ tịch công ty.
Do vậy đối với trường hợp này thì chủ sở hữu cũng sẽ tham gia với tư cách là người quản lý trong công ty. Trong phạm vi đề tài này, tác giả sẽ chỉ đi sâu đề cập đến những người quản lý trong công ty TNHH một thành viên là tổ chức. Như vậy theo quy định tại Khoản 13 Điều 4, người quản lý công ty được xác định theo hình thức liệt kê một loạt các chức danh luật định và theo hướng mở đó là xác đinh người quản lý công ty còn bao gồm “ các chức danh quản lý khác do điều lệ công ty quy định”. Trong công ty có thể có các chức 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com danh quản lý khác như Phó giám đốc ( Phó tổng giám đốc), trưởng văn phòng đại diện, quản đốc… Những người này thường được coi là người quản lý doanh nghiệp theo điều lệ công ty.
Từ đây có thể thấy Luật doanh nghiệp 2005 xác định người quản lý công ty theo chức danh. Hiện nay, không hiếm các đối tượng quản lý là Phó Tổng giám đốc, trưởng phòng kinh doanh, kế toán trưởng… lợi dụng quyền hạn của mình để tư lợi, gây thiệt hại lớn cho công ty. Do vậy cần có cách nhìn khái quát hơn về người quản lý trong công ty, để từ đó có những quy định phù hợp hơn tránh bỏ xót những đối tượng này. Trong bản dự thảo sửa đổi Luật doanh nghiệp năm 2005 có quy định về người quản lý như sau: “ Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty”.
Như vậy người quản lý trong công ty TNHH một thành viên bao gồm: Chủ tịch HĐTV, thành viên HĐTV, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty. Với quy định này có thể thấy khi xác định người quản lý vẫn theo hướng liệt kê một loạt các chức danh theo luật định và theo hướng mở. Đối với công ty TNHH một thành viên có quy định thêm thành viên HĐTV cũng được coi là người quản lý trong công ty thay vì trước đây chỉ có chủ tịch HĐTV là người 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quản lý công ty. Tuy nhiên, định nghĩa về người quản lý này vẫn chưa thực sự đầy đủ, rõ ràng.
Luật công ty của các nước theo hệ thống Common Law như Newzealand, Canada, Singapo, Australia… xác định rất rõ ai là người quản lý công ty và việc xác định dựa trên nguyên tắc: (i) là thành viên Ban giám đốc; (ii) Giữ vị trí hoặc thực hiện vai trò trong vị trí của Giám đốc; (iii) Người đưa ra các chỉ đạo để giám đốc làm theo. Như vậy khái niệm Giám đốc, người quản lý công ty được hiểu khá rộng và bao gồm cả những người không được chỉ định chính thức làm người quản lý công ty. Trong hoạt động xét xử, các Tòa án xác định ai là người quản lý công ty theo chức năng, công việc mà người đó làm chứ không phải chỉ theo chức danh. Vì thế một người không được bổ nhiệm chính thức làm Giám đốc vẫn có thể bị Tòa án coi là Giám đốc và phải chịu trách nhiệm như Giám đốc.
Đấy là điểm khác biệt với phương pháp xác định người quản lý công ty của Luật doanh nghiệp nước ta[15]. Luật doanh nghiệp năm 2005 chưa định nghĩa một cách đầy đủ về người quản lý mà chỉ đưa ra như có tính chất liệt kê những người nào được gọi là người quản lý trong doanh nghiệp nói chung cũng như trong công ty TNHH 1 thành viên nói riêng. Theo quan điểm của chúng tôi, người quản lý trong Doanh nghiệp nói chung và công ty TNHH một thành viên nói riêng được hiểu là những nguời do chủ sở hữu chỉ định, bổ nhiệm hoặc đi thuê, để quản lý điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà những quyết định của họ có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của chủ sở hữu, của công ty, chủ nợ và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến công ty. Cơ chế chỉ định, bổ nhiệm người quản lý trong công ty TNHH một thành viên 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hội đồng thành viên và Chủ tịch Hội đồng thành viên Đối với những công ty TNHH một thành viên mà chủ sở hữu duy nhất của công ty là tổ chức (pháp nhân).
Xuất phát từ bản chất pháp nhân vốn là một thực thế pháp lý độc lập, mọi hoạt động của pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện. Do vậy chủ sở hữu công ty bổ nhiệm một hoặc một số người đại diện theo ủy quyền để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp có ít nhất hai người được bổ nhiệm làm đại diện theo ủy quyền thì cơ cấu tổ chức quản lý của công ty gồm: Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc (Tổng giám đốc) và Kiểm soát viên. Như vậy, chủ sở hữu công ty có quyền quyết định áp dụng cơ cấu tổ chức theo mô hình hội đồng thành viên.
Hội đồng thành viên bao gồm tất cả những người được chủ sở hữu công ty bổ nhiệm đại diện theo ủy quyền. Số lượng thành viên HĐTV do chủ sở hữu công ty quyết định. Đối với công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu có quy định: “Hội đồng thành viên có các thành viên chuyên trách và không chuyên trách. Số lượng thành viên không quá 5 người.
Trường hợp đặc biệt cần nhiều hơn 5 thành viên Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận” (Khoản 3, Điều 15, Nghị định 19/2014 Ban hành Điều lệ mẫu của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu). Trong công ty TNHH một thành viên Chủ tịch Hội đồng thành viên do chủ sở hữu công ty chỉ định trong số thành viên Hội đồng thành viên. Quy định này khác với công ty TNHH hai thành viên trở lên, đó là Chủ tịch Hội đồng thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên được lựa chọn bầu ra trong số các thành viên của Hội đồng thành viên. Nghĩa là chức danh 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chủ tịch Hội đồng thành viên trong công ty TNHH một thành viên do chủ sở hữu công ty toàn quyền quyết định.
Chủ tịch công ty. Như đã nói ở phần trên, chủ sở hữu công ty là tổ chức có toàn quyền quyết định áp dụng cơ cấu tổ chức theo mô hình Hội đồng thành viên hay mô hình Chủ tịch công ty.