CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO 1. Khái niệm, đặc điểm và đối tượng của hợp đồng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 1. Khái niệm Hợp đồng có những tên gọi khác nhau như thỏa thuận, khế ước, giao kèo, thỏa ước. dù rất gần gũi thiết yếu và quen thuộc với mọi người, nhưng khi hỏi nó là gì thì không phải ai cũng có thể định nghĩa được.
Tại cuốn từ điển pháp luật nổi tiếng của Hoa Kỳ, có đưa ra 2 định nghĩa khác nhau về hợp đồng. Định nghĩa thứ nhất: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều người, mà tạo lập nên một nghĩa vụ, làm hoặc không làm một việc cụ thể” Định nghĩa thứ hai: “Hợp đồng là một sự hứa hẹn hoặc tập hợp sự hứa hẹn mà đối với việc vi phạm nó, pháp luật đưa ra một chế tài, hoặc đối với việc thực hiện nó, pháp luật, trong đó một số phương diện, thừa nhận như là một trách nhiệm” [22]. Tại Bộ luật dân sự Queébec (Canada) 1994 cũng định nghĩa: “Hợp đồng là một sự thỏa thuận các ý chí mà bởi nó hoặc một số người tự ràng buộc mình với một hoặc một số người khác để thực hiện một cam kết” (Điều 1378). Theo Bộ luật dân sự Pháp 1804, “Hợp đồng là sự thỏa thuận mà theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều nguời khác chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một việc nào đó” (Điều 1101).
Bộ luật dân sự Nga cho rằng: “Hợp đồng được thừa nhận như một thỏa thuận đuợc giao kết bởi hai hoặc nhiều người về việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự (Điều 420 khoản 1). 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Điều 385 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”. Qua các khảo sát trên ta thấy rằng, định nghĩa hợp đồng đều thể hiện ở 2 vấn đề lớn. Thứ nhất: sự trao đổi và thống nhất giữa các ý chí hay sự thỏa thuận.
Thứ hai, việc tạo lập nên hợp đồng là tạo lập nên một hậu quả pháp lý”[3, tr10 - 11]. Như vậy, dựa trên các định nghĩa mà tác giả có nêu ra ở trên, thì có thể tổng kết rằng: “Hợp đồng là thỏa thuận ý chí của các bên khi tham gia quan hệ dân sự”. Yếu tố thỏa thuận chính là yếu tố quyết định tạo nên hợp đồng. Thỏa thuận là sự bàn bạc, tham luận, cân nhắc, trao đổi đi đến thống nhất ý chí của đôi bên, kết hợp với các nhóm quyền và nghĩa vụ khi bàn bạc, thỏa thuận này sau đó được gọi chung là hợp đồng.
Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại, giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con [19, tr9]. Cặp vợ chồng có nhu cầu mang thai hộ cung cấp noãn và tinh trùng, chính là cha mẹ sinh học thật sự của đứa trẻ, được gọi là “vợ chồng nhờ mang thai hộ”. Cặp vợ chồng có người vợ là người nhận mang thai hộ gọi là “vợ chồng người mang thai hộ” [21]. Từ hai khái niệm trên, ta có thể định nghĩa về hợp đồng mang thai hộ như sau: Hợp đồng mang thai hộ là một văn bản chứa đựng sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của bên nhờ mang thai hộ là cặp vợ chồng vô sinh với bên mang thai hộ là người phụ nữ tự nguyện mang thai vì mục đích nhân đạo, nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ với nhau trong quan hệ pháp luật về mang thai hộ.
Hợp đồng mang thai hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam là biên bản thỏa thuận 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được tạo nên từ ý chí của bên nhờ mang thai hộ với bên mang thai hộ một cách tự nguyện, thiện chí và dựa trên các quy định của pháp luật. Trong mang thai hộ, trước khi các chủ thể tiến hành hoạt động mang thai hộ thì việc đầu tiên đó là các bên phải thỏa thuận với nhau những nội dung trong suốt quá trình mang thai hộ. Nói nôm na, đó chính là sự bàn thảo để tạo nên một hợp đồng dân sự mang tên hợp đồng mang thai hộ. Thực chất, hợp đồng mang thai hộ đầu tiên trên thế giới đã xuất hiện vào năm 1979 tại Hoa Kỳ, khi bác sỹ M.Levin đã thấu hiểu nguyện vọng của một cặp vợ chồng không thể có con vì người vợ không thể mang thai.
Ông đã có ý tưởng, cậy nhờ một người phụ nữ khác mang thai hộ người mẹ, mà phôi thai vẫn lấy từ trứng và tinh trùng của cặp vợ chồng. Bước đầu thực hiện ý tưởng này, ông đã vấp phải khá nhiều vấn đề về pháp lý khi chưa có một văn bản pháp luật nào cụ thể quy định rõ về trường hợp này. Phải mất khá lâu vị bác sỹ, cùng với các nhà luật sư cũng như các nhà nghiên cứu mới có thể tìm hiểu hết và lập ra một “hợp đồng” kín kẽ đảm bảo mối quan hệ cũng như quyền lợi của các bên tham gia quan hệ pháp luật khá nhạy cảm này. Đây cũng được coi là ‘Hợp đồng mang thai hộ” hợp pháp đầu tiên trên thế giới [4, tr14].
Khác với các nước trên thế giới, ở Việt Nam, hợp đồng mang thai hộ không được thể hiện dưới tên gọi “hợp đồng” mà thể hiện ở một tên gọi khác có ý nghĩa tương tự là “thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ”. Tuy có khác nhau về cách đọc cách viết nhưng nội dung của thỏa thuận mang thai hộ cũng chứa đựng các thông tin chủ thể, các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ mang thai hộ, các thông tin thương lượng của đôi bên trong quá trình hỗ trợ mang thai, giao nhận con và các thỏa thuận khác…Thỏa thuận mang thai hộ cũng chính là căn cứ xác lập có tồn tại sự việc mang thai hộ, phân định rõ trách nhiệm cũng như quyền lợi của các bên trong quan hệ mang thai hộ. Đồng thời cũng là căn cứ để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quan hệ này. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dựa trên sự tương đồng về nội dung cũng như nhiệm vụ của “Thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” và “Hợp đồng mang thai hộ”.
Để đảm bảo sự thống nhất về nội dung nghiên cứu, cũng như tính xuyên suốt trong quá trình thực hiện đề tài này. Kể từ đây, tác giả xin phép nghiên cứu về “Thoả thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” dưới góc độ của một “Hợp đồng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” và phân tích nó dưới cái nhìn của một hợp đồng mang thai hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Cụm từ “Hợp đồng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” cũng xin được ngắn gọi lại là “hợp đồng mang thai hộ”. Đặc điểm của hợp đồng mang thai hộ vì mực đích nhân đạo theo quy định của pháp luật Việt Nam Thứ nhất, hợp đồng mang thai hộ là hợp đồng song vụ Pháp luật Việt Nam từ trước tới nay, tỏ ra đồng nhất trong việc phân loại hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ là phân loại đầu tiên được nhắc đến trong bộ luật dân sự [3, tr190].
Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau [10, tr186]. Có nghĩa là, hợp đồng song vụ là sự ràng buộc của hai bên, hay song phương, khi các bên tự ràng buộc mình một cách qua lại, mỗi bên đối với bên kia, để nghĩa vụ của một bên, ứng với nghĩa vụ của bên kia [3, tr190]. Trong hợp đồng mang thai hộ, quyền và nghĩa vụ của các bên được thể hiện đối xứng với nhau ở các mặt sau đây: “Người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ; phải giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Người mang thai hộ phải tuân thủ quy định về thăm khám, các quy trình sàng lọc để phát hiện, điều trị các bất thường, dị tật của bào 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thai theo quy định của Bộ Y tế.
Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày. Trong trường hợp vì lý do tính mạng, sức khỏe của mình hoặc sự phát triển của thai nhi, người mang thai hộ có quyền quyết định về số lượng bào thai, việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con” [12, tr67].
Tương xứng với các quyền và nghĩa vụ của bên mang thai hộ, bên nhờ mang thai hộ cũng có các quyền và nghĩa vụ như sau: “Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản theo quy định của Bộ Y tế. Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với con phát sinh kể từ thời điểm con được sinh ra. Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi. Bên nhờ mang thai hộ không được từ chối nhận con.