Chương 1. Những vấn đề lý luận của pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng. Chương này nghiên cứu khái quát về QL&BVTNR; lý luận pháp luật về QL&BVTNR và sự phát triển của lĩnh vực pháp luật này trong lịch sử. Đây là chương cơ sở lý luận quan trong làm cơ sở để nghiên cứu các nội dung trong chương 2 và đưa ra những đinh hướng, giải pháp trong chương 3.
Thực trạng pháp luật về quản lý và bảo vệ tài ngu yên rừng ở Việt Nam hiện nay. Đây là chương phân tích toàn bộ nội dung pháp luật về QL&BVTNR và đưa ra những nhận định, đánh giá cũng như chỉ ra những nguyên nhân của những khiếm khuyết đối với lĩnh vực pháp luật QL&BVTNR. Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay. Dựa trên những phân tích, đánh giá ở 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chương 2, chương 3 đưa ra những định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về QL&BVTNR.
Kết luận và kiến nghị nghiên cứu tiếp theo. Danh mục các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án của tác giả. Tài liệu tham khảo. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
TỔNG QUAN TÌ NH HÌ NH NGHIÊN CƢ́U 1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam a) Tình hình nghiên cứu các vấn đề chung có liên quan ở Việt Nam Nghiên cứu pháp luật về lĩnh vực QL&BVTNR ở Việt Nam vẫn còn là lĩnh vực tương đối mới, ít được các học giả quan tâm nghiên cứu chuyên sâu. Tính đến thời điểm hiện nay mới xuất hiện những bài viết và các công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến các khía cạnh về quản lý, bảo vệ rừng như bài viết “Một số ý kiến về rừng làng/bản và các biện pháp quản lý” của tiến sĩ Tô Đình Mai, Phạm Quốc Tuấn [47], bài viết “Quản lý bảo vệ rừng và môi trường trên cơ sở cộng đồng” của tác giả Nguyễn Huy Dũng đăng trên Tạp chí Bảo vệ môi trường số 12/2002. Các bài viết này phân tích các mối quan hệ giữa các cư dân miền núi với rừng như phong tục tập quán, đời sống tâm linh của họ đối với rừng.
Trên cơ sở đó, các tác giả đề nghị cần có quy định pháp luật về việc giao các diện tích rừng mang tính chất cộng đồng, có yếu tố tâm linh cho cộng đồng các thôn bản quản lý, xem đó như tài sản chung của cả cộng đồng. Tuy nhiên, các tác giả lại chưa đề cập đến việc nên trao các quyền và nghĩa vụ pháp lý gì cho cộng đồng để quản lý các diện tích rừng đó. Trong tuyển tập – Khoa học Công nghệ NN&PTNT 20 năm đổi mới – Tập 5 Lâm Nghiệp có bài viết của tác giả Bùi Minh Vũ “Mục tiêu, quan điểm phát triển mạnh trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, hướng tới đóng cửa rừng tự nhiên, giai đoạn 1997 – 2010”. Trên cơ sở phân tích các yêu cầu, mục tiêu về bảo vệ, phát triển rừng đạt tỷ lệ che phủ 43% vào năm 2020, tác giả có đề xuất một số giải pháp về mặt chính sách chung để hướng tới phát triển rừng bền vững như: định canh định cư và xoá đói giảm nghèo; chính sách giao đất, giao rừng ổn định, đầu tư về vốn cho bảo vệ rừng, trồng rừng; chính sách khuyến khích sử dụng các sản phẩm thay thế gỗ củi như phát triển mạnh chế biến ván nhân tạo.; khuyến khích phát triển các cơ sở chế biến gỗ từ rừng trồng… [8].
Tác giả Bùi Minh Vũ cũng chưa có đề xuất cụ thể nào dưới khía cạnh pháp lý để 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoàn thành các mục tiêu mà nhà nước đặt ra là đạt độ che phủ của rừng 43% vào năm 2020. Sau khi có chính sách đ ổi mới doanh nghiệp nhà nước thì các lâm trường quốc doanh cũng được nhà nước đề xuất đổi mới và được quy định trong Nghị định số 200/2004/NĐ-CP. Nghị định này có các mục tiêu là sử dụng đất hiệu quả hơn và bền vững hơn; tăng cường tính hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của các lâm trường quốc doanh; cải thiện các cơ hội kinh tế và xã hội tại địa phương có lâm trường quốc doanh; tách lợi ích công ra khỏi hoạt động sản xuất kinh doanh. Lâm trường hoạt động sản xuất kinh doanh phải theo cơ chế thị trường còn lâm trường hoạt động công ích sẽ chuyển thành các Ban quản lý rừng phòng hộ; thí điểm cổ phần hoá một số lâm trường đã được chọn, chuyển một số lâm trường thành công ty trách nhiệm hữu hạn, trao quyền tự chủ nhiều hơn cho các lâm trường.
Sau khi nghiên cứu cụ thể tại một số lâm trường thực hiện Nghị đị nh trên qua đề tài “Đổi mới lâm trường quốc doanh tại Việt Nam – đánh giá khung chính sách và thực hiện Nghị định 200/CP/2004” của Ngân hàng Thế giới tháng 11 năm 2005. Các tác giả đề xuất một số khuyến nghị đối với chính phủ Việt Nam như: tăng cường công tác giám sát thực hiện và hỗ trợ các lâm trường quốc doanh từ phía Bộ NN&PTNT; Bộ cần hướng dẫn các tỉnh và công bố số liệu thống kê về việc thực hiện cải cách lâm trường quốc doanh trên toàn quốc. Việc phân loại rõ ràng và thống nhất ba loại rừng là nền tảng cho việc thực hiện thành công Nghị định số 200/2004/NĐ-CP. Đây là đề tài nghiên cứu khá chi tiết và cụ thể về việc thực hiện một nghị định và nghiên cứu này cũng đã phân tích những điểm mạnh và điểm yếu của việc thực hiện sự tách bạch lợi ích kinh tế và lợi ích công, cũng như sự khó khăn trong việc chuyển đổi các lâm trường quốc doanh sang hoạt động theo cơ chế thị trường.
Hầu hết các lâm trường vẫn muốn giữ lại nhiệm vụ công ích để được nhà nước cấp kinh phí hoạt động hàng năm. Điều này đã chứng tỏ sự trì trệ trong việc đổi mới các lâm trường quốc doanh theo cơ chế thị trường như mong muốn mà nhà nước đặt ra khi ban hành Nghị định số 200/2004/NĐ-CP [50]. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên cơ sở các phân tích đó, các tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị cho cả cơ quan quản lý nhà nước là Bộ NN&PTNT trong việc phê duyệt đề án cải cách lâm trường quốc doanh của các tỉnh cũng như đề xuất các khuyến nghị cho các nhà tài trợ. Mặc dù vậy, nghiên cứu này chưa đề cập được những vấn đề liên quan trực tiếp đến pháp luật về QL&BVTNR.
Năm 2005, tác giả Chu Tiến Quang, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương nghiên cứu đề tài “Thực trạng hiệu quả hoạt động của các nông lâm trường quốc doanh ở Việt Nam”. Đây là công trình nghiên cứu tương đối toàn diện về chủ rừng là các nông lâm trường quốc doanh trong cả nước. Trên cơ sở khảo cứu hiệu quả hoạt động của 70 lâm trường quốc doanh thuộc 15 tỉnh, tác giả đã khái quát được các nguyên nhân và một số định hướng về giải pháp tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động của các lâm trường. Kết quả nghiên cứu có kết luận như sau: trong những năm đổi mới vừa qua, chúng ta còn nặng về đổi mới, sắp xếp lại một cách cơ học về tổ chức và ban hành nhiều chính sách hỗ trợ; hiệu quả kinh doanh của các lâm trường có được cải thiện, song còn rất yếu, nhiều vấn đề chưa được giải quyết tốt về mặt tổ chức cũng như chính sách, làm hạn chế hiệu quả kinh doanh và vai trò của lâm trường.
Năm 2006, nhóm tác giả Ngô Đình Thọ, Phạm Xuân Phương, Bùi Huy Nho và Nguyễn Hữu Tuynh nghiên cứu đề tài Quản lý Lâm trường quốc doanh, thuộc chương trình hỗ trợ lâm nghiệp và đối tác. Công trình này đã khái quát quá trình phát triển lâm trường quốc doanh và thực trạng hiện nay, đánh giá kết quả, tồn tại, khó khăn và bài học kinh nghiệm về quá trình phát triển lâm trường quốc doanh. Các nghiên cứu cũng đã đưa ra định hướng đổi mới cho lâm trường quốc doanh giai đoạn 2006 – 2010, từ đó đưa ra một số giải pháp và chính sách nhằm nâng cao hiệu quả sắp xếp đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh [13]. Bài báo của tác giả Anh Thơ về các nông lâm trường quốc doanh với tựa đề “Thay máu cho nông lâm trường quốc doanh” đăng trên Tạp chí Kinh tế Nông thôn có đ ề cập đến những khó khăn và hạn chế trong việc chậm hoàn 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành đề án đổi mới, sắp xếp phát triển các nông lâm trường là do vướng mắc từ việc điều chỉnh quy hoạch đất đai, rà soát phân loại rừng và năng lực nội tại của các lâm trường.
Về đất đai, tình trạng phổ biến là các nông lâm trường chưa tự giải quyết dứt điểm được tình trạng liên kết trá hình, tình trạng cho thuê, cho mượn đất dẫn đến hiệu quả sử dụng đất không cao, tranh chấp kéo dài, chưa có sắp xếp thoả đáng về nguồn lực con người; chưa xác định được giá trị rừng, giá trị vườn cây để giao vốn cho doanh nghiệp khi chuyển đổi các nông lâm trường sang mô hình công ty [76]. Tuy nhiên, những đề xuất của các tác giả khi nghiên cứu về lâm trường quốc doanh mới chỉ dừng lại ở khía cạnh kinh tế mà chưa có các đề xuất cụ thể về chính sách pháp luật. Tác giả Nguyễn Bá Ngãi với bài viết “Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá trong ngành lâm nghiệp” đã phân tích Đ ảng và Nhà nước tiếp tục kiên trì cải thiện sinh kế của người làm nghề rừng thông qua xã hội hóa và đa dạng hóa các hoạt động lâm nghiệp [49]. Mặc dù vậy, tác giả chưa đề cập cụ thể đến những quy định pháp luật để phục vụ cho mục tiêu xã hội hóa lâm nghiệp.
Nhóm tác giả Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Văn Dũng, Nguyễn Văn Song, Hoàng Văn Thắng, Nguyễn Hữu Dũng, Phạm Ngọc Tuấn, Trần Thị Hoa và Đoàng Cảnh năm 2008, có nghiên cứu: “Báo cáo về đánh giá một số tác động về môi trường, kinh tế và xã hội của các chính sách quốc gia về buôn bán động vật, thực vật hoang dã ở Việt Nam”, CRES/FPD/UNEP/CITES/IUED, Hà Nội, Việt Nam [39]. Đây là đề tài nghiên cứu khá công phu và chi tiết một số tác động về môi trường, kinh tế và xã hội của các chính sách quốc gia về buôn bán động vật, thực vật hoang dã ở Việt Nam.