Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XXI ghi nhận sự thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ lao động kỹ thuật có tay nghề cao. Tính đến năm 2000, cả nước chỉ có gần 6 triệu người, tương đương 15,51% tổng lực lượng lao động xã hội, đã qua đào tạo từ trình độ sơ cấp nghề trở lên. Trong tổng số 40 triệu lao động năm 1999, có đến 80% là lao động nông nghiệp và khoảng 30% trong số này thuộc diện dôi dư, trong khi mỗi năm thị trường tiếp nhận thêm khoảng 1,4 triệu người bước vào độ tuổi lao động. Đứng trước sức ép giải quyết việc làm và yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề hoàn thiện thể chế dạy và học nghề trở thành nhiệm vụ mang tính quốc sách.

Luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ dạy và học nghề trong hệ thống pháp luật lao động Việt Nam. Mục tiêu trọng tâm là làm sáng tỏ bản chất pháp lý của quyền học nghề, quyền dạy nghề, bản chất tiền quan hệ lao động của hợp đồng học nghề, đồng thời đánh giá thực trạng áp dụng Bộ luật Lao động 1994 và Nghị định 02/2001/NĐ-CP. Phạm vi nghiên cứu bao quát tiến trình lịch sử từ năm 1945 đến năm 2002, kết hợp đối chiếu các chuẩn mực quốc tế của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia phát triển. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ pháp lý vững chắc nhằm hiện thực hóa mục tiêu chiến lược giai đoạn 2001-2005: nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 30% và tăng quy mô đào tạo công nhân kỹ thuật từ 11% đến 12% mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển vốn nhân lực (Human Capital Theory) trong nền kinh tế tri thức kết hợp với quan điểm pháp lý quốc tế về quyền con người theo Điều 6 Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 và Công ước số 142 của ILO năm 1975 về phát triển nguồn nhân lực. Khung phân tích xác lập quan hệ học nghề là một dạng quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp và gắn liền hữu cơ với quan hệ lao động, đóng vai trò là giai đoạn tiền đề xác lập hợp đồng lao động chính thức.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm pháp lý nền tảng:

  • Quyền học nghề: Khả năng pháp lý của công dân trong việc chủ động lựa chọn ngành nghề, cơ sở đào tạo nhằm tích lũy kỹ năng thực hành nghề nghiệp theo quy định tại Điều 20 Bộ luật Lao động 1994.
  • Quyền dạy nghề: Thẩm quyền và điều kiện pháp lý của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong việc tổ chức truyền thụ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp theo giấy phép hoạt động chuẩn hóa.
  • Hợp đồng học nghề: Sự thỏa thuận bằng văn bản hoặc lời nói giữa người học và cơ sở dạy nghề nhằm xác lập quyền, nghĩa vụ, thời gian học tập, chi phí đào tạo và cam kết việc làm theo Điều 24 Bộ luật Lao động 1994.
  • Năng lực chủ thể học nghề: Quy chuẩn về thể lực, trí lực và độ tuổi tham gia học nghề, trong đó độ tuổi chuẩn tối thiểu được pháp luật quy định từ đủ 13 tuổi theo Điều 22 Bộ luật Lao động 1994.

Khung tham chiếu cũng phân tích kinh nghiệm quốc tế về cơ chế tài chính bắt buộc, điển hình như quy định tại Điều L950-1 Bộ luật Lao động Pháp buộc doanh nghiệp sử dụng từ 10 lao động trở lên phải đóng góp tối thiểu 1,1% tổng quỹ lương hàng năm cho đào tạo nghề, hay chính sách trích 15% tổng quỹ lương phục vụ giáo dục nghề nghiệp tại Trung Quốc.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống hơn 20 văn bản quy phạm pháp luật lao động Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (Sắc lệnh 29/SL năm 1947, Hiến pháp 1992, Bộ luật Lao động 1994, Nghị định 02/2001/NĐ-CP, Quyết định 67/1998/QĐ-TTg) cùng các báo cáo thống kê chính thức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giai đoạn 1990-2001.

Nghiên cứu tiến hành khảo sát chọn mẫu có chủ đích tại 60 cơ sở dạy nghề đại diện cho 3 nhóm hình thức: trường dạy nghề công lập, trung tâm dạy nghề tư thục và cơ sở đào tạo kèm cặp tại doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội cùng một số tỉnh công nghiệp trọng điểm. Việc lựa chọn phương pháp này xuất phát từ yêu cầu đánh giá chính xác tác động thực tế của cơ chế thị trường và sự chuyển giao quyền quản lý nhà nước sang Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Phương pháp phân tích kết hợp giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp luật học so sánh, tổng hợp quy nạp và phân tích quy phạm pháp luật, được triển khai liên tục trong khung thời gian từ năm 2000 đến năm 2002.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu đào tạo nhân lực tại Việt Nam tồn tại sự mất cân đối nghiêm trọng dạng tháp ngược. Năm 1996, tỷ lệ tương quan đào tạo giữa bậc đại học - trung học chuyên nghiệp - công nhân kỹ thuật là 1 - 1,7 - 2,4; đến năm 2000, tỷ lệ này biến động thành 1 - 1,2 - 1,7. Trong khi đó, tỷ lệ chuẩn mực tại các quốc gia công nghiệp phát triển đạt mức 1 - 4 - 10, cho thấy số lượng lao động trực tiếp sản xuất có trình độ tay nghề cao tại Việt Nam đang thiếu hụt trầm trọng.

Thứ hai, việc tái cơ cấu hệ thống quản lý nhà nước mang lại hiệu quả rõ rệt. Việc thực hiện Quyết định 67/1998/QĐ-TTg chuyển giao công tác quản lý dạy nghề từ Bộ Giáo dục và Đào tạo sang Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng với việc thành lập Tổng cục Dạy nghề theo Nghị định 33/1998/NĐ-CP, đã gắn kết 100% mục tiêu đào tạo nghề với giải quyết việc làm thực tế và chiến lược xuất khẩu lao động.

Thứ ba, sự bùng nổ của mạng lưới cơ sở dạy nghề ngoài công lập và các khóa học ngắn hạn. Các chương trình dạy nghề dưới 12 tháng hướng vào các nghề kỹ thuật ứng dụng như sửa chữa ô tô, xe máy, điện tử, vi tính chiếm hơn 70% tổng số lượt học viên tuyển sinh mới trong giai đoạn 1998-2001.

Thứ tư, khung pháp lý điều chỉnh hợp đồng học nghề còn thiếu tính ràng buộc. Tỷ lệ tranh chấp phát sinh từ việc người học nghề vi phạm cam kết làm việc sau khi được doanh nghiệp tài trợ kinh phí đào tạo chiếm khoảng 25% các vụ việc bất đồng tại các khu công nghiệp, nguyên nhân chủ yếu do chưa có quy định chi tiết về cơ chế xác định và bồi hoàn phí dạy nghề.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của sự bất cập bắt nguồn từ tâm lý chuộng bằng cấp hàn lâm, sự đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho các trường nghề chưa tương xứng và sự thiếu vắng chế tài buộc doanh nghiệp chia sẻ trách nhiệm tài chính đào tạo. Khi so sánh với Cộng hòa Liên bang Đức, nơi có gần 66,7% thanh niên từ 16 đến 19 tuổi tham gia hệ thống đào tạo kép 3 năm với mức chi ngân sách từ các ngành kinh tế đạt khoảng 15 tỷ USD mỗi năm, cơ chế liên kết ba bên giữa Nhà nước, Cơ sở đào tạo và Doanh nghiệp tại Việt Nam còn rất lỏng lẻo.

Dữ liệu nghiên cứu về sự chuyển dịch cơ cấu tay nghề có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ tháp nhân lực phân tầng so sánh giữa Việt Nam và các nước OECD giai đoạn 1995-2000. Đồng thời, bảng thống kê đối chiếu nguồn thu tài chính của trường nghề cho thấy hơn 80% kinh phí vẫn phụ thuộc vào ngân sách công và học phí, trong khi nguồn đóng góp từ doanh nghiệp sử dụng lao động gần như bằng 0%. Thực trạng này khẳng định sự cần thiết phải có quy định luật hóa trách nhiệm đóng góp tài chính của doanh nghiệp cho quỹ đào tạo nghề quốc gia.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, xây dựng và ban hành Luật Dạy nghề độc lập. Quốc hội và Chính phủ cần khẩn trương nâng cấp các quy định tại Chương IV Bộ luật Lao động 1994 và Nghị định 02/2001/NĐ-CP thành một đạo luật chuyên ngành trước năm 2006, chuẩn hóa 100% tiêu chuẩn thành lập cơ sở dạy nghề, chương trình khung đào tạo và quy chế kiểm định chất lượng tay nghề quốc gia.

Thứ hai, thể chế hóa nghĩa vụ đóng góp tài chính của doanh nghiệp. Bộ Tài chính phối hợp cùng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng quy định bắt buộc các doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên phải trích từ 1% đến 1,5% tổng quỹ lương hàng năm vào quỹ đào tạo nghề nội bộ hoặc quỹ phát triển kỹ năng quốc gia, áp dụng thí điểm trong giai đoạn 2003-2005.

Thứ ba, hoàn thiện chế định hợp đồng học nghề và cơ chế tài phán. Bổ sung thông tư hướng dẫn chi tiết về mẫu hợp đồng học nghề, xác định rõ các khoản chi phí đào tạo hợp lệ và biểu mức bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng. Mục tiêu kéo giảm 50% số lượng tranh chấp lao động liên quan đến cam kết đào tạo tại các doanh nghiệp trong vòng 2 năm triển khai áp dụng.

Thứ tư, mở rộng chính sách ưu đãi tài chính cho các nhóm đối tượng đặc thù. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh cần thực thi chính sách miễn giảm 100% thuế thu nhập doanh nghiệp và tiền thuê đất cho các cơ sở đào tạo nghề tiếp nhận thương bệnh binh, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời đặt mục tiêu đào tạo nghề ngắn hạn gắn với giải quyết việc làm cho 500.000 lao động nông nghiệp dôi dư mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và lập pháp: Các chuyên viên, nhà hoạch định chính sách thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Xã hội của Quốc hội sử dụng luận văn làm cơ sở lý luận và thực tiễn để soạn thảo dự án Luật Dạy nghề cùng các văn bản hướng dẫn thi hành.

Nhóm lãnh đạo cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Ban giám hiệu các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề và giám đốc hơn 600 trung tâm dạy nghề trên toàn quốc tham khảo nhằm chuẩn hóa quy trình tuyển sinh, quản lý hợp đồng đào tạo và xây dựng chuẩn đầu ra đáp ứng nhu cầu thị trường.

Nhóm doanh nghiệp và tổ chức sử dụng lao động: Giám đốc nhân sự, chuyên viên pháp chế tại các doanh nghiệp áp dụng các phân tích pháp lý để xây dựng điều khoản cam kết đào tạo trong thỏa ước lao động tập thể và xử lý đúng luật các tranh chấp bồi hoàn chi phí học nghề.

Nhóm nghiên cứu, giảng viên và sinh viên luật: Các nhà khoa học, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Lao động khai thác nguồn tư liệu hệ thống đầu tiên về lịch sử lập pháp dạy nghề tại Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2002.

Câu hỏi thường gặp

Theo quy định của pháp luật lao động hiện hành, độ tuổi tối thiểu để cá nhân tham gia học nghề là bao nhiêu? Điều 22 Bộ luật Lao động 1994 quy định người học nghề tại các cơ sở dạy nghề phải đủ từ 13 tuổi trở lên và có đủ sức khỏe phù hợp với nghề theo học. Đối với các ngành nghề đặc thù nghệ thuật như xiếc, múa hoặc thể thao, độ tuổi có thể dưới 13 tuổi theo quy định riêng của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Doanh nghiệp có quyền yêu cầu người học nghề bồi hoàn chi phí đào tạo trong trường hợp nào? Theo Nghị định 02/2001/NĐ-CP, khi doanh nghiệp bỏ kinh phí đào tạo nghề để tuyển dụng vào làm việc, người học nghề phải bồi hoàn toàn bộ chi phí bao gồm tiền thù lao giáo viên, tài liệu, vật liệu thực hành nếu sau khi tốt nghiệp không làm việc cho doanh nghiệp theo đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng học nghề.

Tại sao quyền quản lý nhà nước về dạy nghề lại chuyển giao từ Bộ Giáo dục và Đào tạo sang Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội? Quyết định 67/1998/QĐ-TTg thực hiện chuyển giao nhằm mục tiêu gắn kết chặt chẽ công tác đào tạo nghề với thị trường lao động và chiến lược giải quyết việc làm. Dạy nghề mang tính thực hành cao, trực tiếp cung ứng nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế và xuất khẩu lao động nên đặt dưới sự điều hành của ngành lao động là hoàn toàn phù hợp.

Cơ sở pháp lý đầu tiên quy định về chế độ học nghề tại Việt Nam là văn bản nào? Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 là văn bản pháp lý đầu tiên đặt nền móng cho chế độ học nghề. Văn bản này quy định người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi được coi là thợ học nghề và bắt buộc các cơ sở sử dụng từ 30 thợ chuyên nghiệp trở lên phải đào tạo một số lượng thợ học nghề tương đương tối thiểu 1/10 số thợ hiện có.

Cơ sở dạy nghề dành cho đối tượng chính sách xã hội được hưởng những ưu đãi pháp lý nào? Theo Bộ luật Lao động 1994 và Thông tư 32/TC-TCT năm 1996, các cơ sở dạy nghề dành riêng cho thương binh, người tàn tật, người dân tộc thiểu số được miễn giảm thuế, ưu tiên giao đất xây dựng trường lớp và tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi từ Quỹ Quốc gia về việc làm nhằm hỗ trợ đào tạo hòa nhập.

Kết luận

  • Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện chế độ dạy và học nghề dưới góc độ khoa học luật học tại Việt Nam.
  • Khẳng định bản chất pháp lý của quan hệ học nghề là tiền quan hệ lao động, chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Lao động với trung tâm là hợp đồng học nghề.
  • Chỉ rõ thực trạng mất cân đối cơ cấu nhân lực với tỷ lệ tháp đào tạo 1 - 1,2 - 1,7 năm 2000, đòi hỏi sự đột phá trong chính sách phát triển thợ kỹ thuật lành nghề.
  • Đề xuất mô hình liên kết ba bên Nhà nước - Cơ sở đào tạo - Doanh nghiệp, hướng tới luật hóa mức đóng góp kinh phí đào tạo từ 1% đến 1,5% quỹ lương của doanh nghiệp.
  • Xác lập cơ sở lý luận cho tiến trình xây dựng Luật Dạy nghề độc lập, bảo đảm mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 30% giai đoạn 2001-2005.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp luận cứ khoa học hoàn chỉnh giúp chuyển đổi tư duy lập pháp từ bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các nhà hoạch định chính sách, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp cần tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp của luận văn nhằm xây dựng thị trường lao động Việt Nam hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế.