Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học "Chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Lê Thị Hoài Thu thực hiện tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2005, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Hữu Viện và PGS. TS. Phạm Công Trứ, thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế (Mã số: 5.15).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp mang tính tất yếu khách quan và là một đặc trưng vốn có của cơ chế thị trường mà xã hội chỉ có thể hạn chế chứ không thể loại bỏ hoàn toàn. Tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với tốc độ tăng dân số (khoảng 1,4%/năm, dự báo đến năm 2010 đạt khoảng 85 triệu người với 56 triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm 65%) và việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã khiến áp lực việc làm gia tăng.
Khi tỷ lệ thất nghiệp vượt qua giới hạn cho phép, hậu quả kinh tế - xã hội phát sinh rất lớn: gây lãng phí nguồn lực sản xuất, tăng gánh nặng chi phí ngân sách và các quỹ xã hội, làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm. Trước thời điểm nghiên cứu, hệ thống pháp luật Việt Nam chủ yếu áp dụng các biện pháp mang tính tình thế như trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp lao động dôi dư khi sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước (theo Quyết định số 176/HĐBT ngày 09/10/1989, Quyết định số 111/HĐBT ngày 12/04/1991, Pháp lệnh Hợp đồng lao động năm 1990, Bộ luật Lao động năm 1994 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2002). Các quy định này còn mang dấu ấn của cơ chế bao cấp, đặt gánh nặng chi trả trực tiếp lên người sử dụng lao động và ngân sách nhà nước, chưa hình thành một cơ chế bảo hiểm thất nghiệp thực sự dựa trên sự đóng góp và chia sẻ rủi ro giữa ba bên: Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động.
Chủ trương xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp đã được khẳng định tại Nghị quyết Trung ương 7 khóa VII, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, lần thứ IX và Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX. Khoản 1 Điều 140 Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2002 cũng đã quy định nguyên tắc về quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Do đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống dưới góc độ luật học về chế độ bảo hiểm thất nghiệp là khoảng trống khoa học cần được giải quyết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thất nghiệp, người thất nghiệp và chế độ bảo hiểm thất nghiệp; phân tích, đánh giá thực trạng chế độ hỗ trợ người lao động mất việc làm tại Việt Nam qua các thời kỳ; luận giải sự cần thiết khách quan và đề xuất phương hướng xây dựng, thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam.
Để đạt được mục tiêu trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa thị trường sức lao động với thất nghiệp, tính tất yếu khách quan của thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường; làm rõ khái niệm thất nghiệp, người thất nghiệp và tác động kinh tế - xã hội của thất nghiệp.
- Nghiên cứu nội dung cơ bản của chế độ bảo hiểm thất nghiệp, mối quan hệ giữa bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm xã hội, làm rõ ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật đối với chế độ này.
- Phân tích thực trạng thất nghiệp và các quy định pháp luật về hỗ trợ người lao động mất việc làm ở Việt Nam qua các giai đoạn phát triển kinh tế; đánh giá kết quả, hạn chế và khẳng định sự cần thiết khách quan của chế độ bảo hiểm thất nghiệp.
- Đề xuất và luận giải phương hướng, nguyên tắc, nội dung cụ thể của chế độ bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam (đối tượng, điều kiện, mức hưởng, thời gian hưởng, cơ chế hình thành và quản lý quỹ, các biện pháp hỗ trợ người thất nghiệp quay lại thị trường lao động).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng tình hình thất nghiệp và các quy phạm pháp luật điều chỉnh chế độ hỗ trợ người lao động mất việc làm ở Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong việc xem xét vấn đề thất nghiệp và chế độ bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động làm công ăn lương, có tham gia vào quan hệ lao động và có giao kết hợp đồng lao động. Đồng thời, luận án có mở rộng nghiên cứu tham chiếu các chuẩn mực của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại các công trình nghiên cứu khoa học và bài viết chuyên khảo đã công bố tại Việt Nam liên quan đến đề tài:
Các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và ngành
- Đề tài "Dự án mô hình chính sách để thực hiện bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam" của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (tháng 10/1997): Khái quát thực trạng thất nghiệp và các chính sách hỗ trợ người mất việc làm qua các thời kỳ, phác họa sơ bộ một số nội dung chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
- Đề tài "Những vấn đề lý luận và thực tiễn để xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp" của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (tháng 4/1999): Hệ thống hóa lý luận, phân tích tình hình thất nghiệp và đề xuất nguyên tắc, giải pháp thực hiện bảo hiểm thất nghiệp.
- Đề tài "Nghiên cứu xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo Luật Lao động sửa đổi, bổ sung" của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (tháng 5/2002): Đưa ra cơ sở khoa học, thực tiễn và xác định nội dung chủ yếu của chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định sửa đổi của Bộ luật Lao động.
- Đề tài "Cơ chế tạo nguồn và tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp" của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (tháng 12/2003): Giới thiệu hệ thống pháp luật bảo hiểm thất nghiệp của một số quốc gia đang phát triển và phát triển, rút ra bài học kinh nghiệm về tạo nguồn quỹ và tổ chức thực hiện cho Việt Nam.
- Đề tài "Nghiên cứu những nội dung cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp hiện đại, vấn đề lựa chọn hình thức trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam" của Bảo hiểm xã hội Việt Nam (tháng 3/2004): Nghiên cứu lịch sử, nội dung cơ bản, kinh nghiệm quốc tế và đề xuất các mô hình trợ cấp thất nghiệp phù hợp với Việt Nam.
Các bài viết và công trình học thuật chuyên sâu
- Nhóm bài viết về thất nghiệp khi chuyển sang kinh tế thị trường: "Xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp đôi điều cần bàn" (Thái Đông Hải, Tạp chí Bảo hiểm xã hội, 2004); "Một số vấn đề về xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp" (Nguyễn Xuân Nga, Tạp chí Lao động và Công đoàn, 2003); "Thất nghiệp và vấn đề bảo hiểm thất nghiệp" (Mạc Tiến Anh, Tạp chí Lao động và Xã hội, 2002).
- Nhóm bài viết về sự cần thiết lập pháp: "Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp sự cần thiết khách quan và nguyên tắc xây dựng" (Đỗ Năng Khánh, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 2001); "Cần có pháp luật riêng về bảo hiểm thất nghiệp" (Hoàng Hà, Tạp chí Lao động và Công đoàn, 2001).
- Nhóm bài viết về nội dung và mô hình: "Thất nghiệp ở nước ta: hình thức và bản chất" (Nguyễn Bá Ngọc, Tạp chí Lao động và Xã hội, 1998); "Mô hình nào cho bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam" (Nguyễn Trọng Thản, Tạp chí Bảo hiểm xã hội, 2002).
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Thất nghiệp và việc xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam" (Đỗ Năng Khánh, 2000).
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề dưới góc độ kinh tế học hoặc chính sách xã hội, mang tính chất đơn lẻ từng khía cạnh. Luận án của Lê Thị Hoài Thu là công trình chuyên khảo nghiên cứu có tính hệ thống và toàn diện dưới góc độ khoa học pháp lý, làm rõ các căn cứ lý luận, phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật hiện hành và đề xuất hệ thống giải pháp pháp lý đồng bộ để hình thành chế độ bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm nền tảng
- Học thuyết Mác - Lênin về hàng hóa sức lao động: Phân tích bản chất của sức lao động như một loại hàng hóa đặc biệt, gắn liền với cơ thể sống của con người, có giá trị và giá trị sử dụng. Luận án viện dẫn hai điều kiện lịch sử để sức lao động trở thành hàng hóa (người lao động tự do về thân thể và không có tư liệu sản xuất), đồng thời chỉ ra sự biến đổi của các điều kiện này trong nền kinh tế thị trường hiện đại khi người lao động có thể sở hữu một phần tư liệu sản xuất nhưng vẫn tham gia quan hệ làm công ăn lương.
- Lý thuyết việc làm và thất nghiệp: Tiếp cận quan điểm của John Maynard Keynes về thất nghiệp bắt buộc (tổng cung lao động lớn hơn khối lượng việc làm hiện có ở mức tiền lương danh nghĩa); quan điểm của Paul Samuelson coi thất nghiệp là vấn đề trung tâm của xã hội hiện đại gây lãng phí nguồn lực và suy giảm thu nhập.
- Chuẩn mực pháp lý quốc tế về thất nghiệp:
- Công ước số 102 (1952) của ILO: Định nghĩa thất nghiệp dựa trên tiêu chí "sự ngừng thu nhập do không có khả năng tìm được việc làm thích hợp của người có khả năng và sẵn sàng làm việc".
- Công ước số 168 (1988) của ILO: Bổ sung tiêu chí "tích cực tìm kiếm việc làm".
- Nghị quyết Hội nghị thống kê lao động quốc tế lần thứ 13 (Geneva, 1983): Ba tiêu chí xác định thất nghiệp gồm không có việc làm, có khả năng làm việc và đang tìm việc làm.
- Khuyến nghị năm 1975 của ILO và quan điểm của Văn phòng Lao động Quốc tế (BIT).
- Luật pháp quốc tế so sánh: Phân tích định nghĩa và cơ chế điều chỉnh người thất nghiệp trong luật của Cộng hòa Liên bang Đức (Điều 101 Luật Bảo hiểm thất nghiệp), Ba Lan (Điều 2 Luật về việc làm và thất nghiệp), Pháp, Nhật Bản, Thái Lan (Điều 5 Luật Bảo hiểm xã hội) và Trung Quốc.
- Khung pháp lý Việt Nam: Định nghĩa việc làm theo Điều 13 Bộ luật Lao động năm 1994 (sửa đổi năm 2002); các quy định tại Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947, Nghị định 233/HĐBT ngày 22/6/1990 và Điều 140 Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2002.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin cùng tư tưởng Hồ Chí Minh. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích lịch sử: Khảo sát quá trình chuyển biến chính sách lao động từ thời kỳ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế của ILO và pháp luật một số quốc gia.
- Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật và tổng hợp: Làm rõ các điều kiện, cơ chế, lỗ hổng pháp lý trong chế độ trợ cấp thôi việc, mất việc làm.
- Phương pháp thống kê và đối chiếu số liệu: Sử dụng dữ liệu về lao động, việc làm, cơ cấu đào tạo, di dân.
- Phương pháp điều tra xã hội học, diễn giải và quy nạp.
Nguồn dữ liệu
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX và các Nghị quyết Trung ương liên quan.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước từ năm 1947 đến năm 2004.
- Dữ liệu thống kê từ Tổng cục Thống kê, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Điều tra Lao động – Việc làm năm 2004, Điều tra Mức sống dân cư 1992-1993 và 1997-1998) và Bộ Giáo dục và Đào tạo (1999).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận về thị trường sức lao động, bản chất của thất nghiệp và cơ chế pháp lý của bảo hiểm thất nghiệp.
1. Thị trường sức lao động và các đặc điểm tại Việt Nam
Luận án xác định sức lao động là hàng hóa đặc biệt, thị trường sức lao động là bộ phận cấu thành của kinh tế thị trường. Qua khảo sát thực tế, tác giả khái quát 3 đặc điểm cơ bản của thị trường sức lao động Việt Nam:
- Đặc điểm 1: Mất cân đối cung - cầu nghiêm trọng, cung lớn hơn cầu cả về quy mô và cơ cấu.
- Lực lượng lao động lớn và phân bố không đều: Năm 2004, cả nước có 43.255,3 nghìn người từ đủ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động; trong đó nông thôn chiếm 75,6% (32.706 nghìn người) và thành thị chiếm 24,4% (10.549,3 nghìn người). Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị năm 2004 là 5,6%, tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn là 79,34%.
- Chất lượng lao động thấp và bất cập trong cơ cấu đào tạo: Tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật qua đào tạo năm 2004 chỉ đạt 22,5% (đào tạo nghề: 13,3%; trung học chuyên nghiệp: 4,4%; cao đẳng, đại học trở lên: 4,8%). Tình trạng "thừa thầy, thiếu thợ", mất cân đối giữa các ngành đào tạo.
Bảng: Cơ cấu sinh viên công lập phân theo khối chuyên ngành tại Việt Nam (Nguồn: Số liệu Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố ngày 15/11/1999 trên tổng số 103.519 sinh viên)
| Khối chuyên ngành |
Tỷ lệ (%) |
| Sư phạm |
39,24% |
| Kỹ thuật |
17,36% |
| Kinh tế |
13,07% |
| Khoa học cơ bản |
7,07% |
| Nông nghiệp (bao gồm lâm nghiệp, thủy sản) |
5,05% |
| Y dược |
2,03% |
| Luật |
1,98% |
| Nghệ thuật |
1,60% |
| Thể dục thể thao |
1,40% |
| Quốc phòng, công an |
1,12% |
| Khối ngành khác |
9,08% |
- Đặc điểm 2: Thị trường mang tính tự phát cao, phân tán, chia cắt và quan hệ cung - cầu lỏng lẻo.
- Dòng di chuyển lao động tự do nông thôn - thành thị diễn ra mạnh mẽ: Giai đoạn 1990-1997, di dân tự do nông thôn - đô thị đạt 1,2 - 1,5 triệu người, cường độ khoảng 120.000 người di cư/năm. Hà Nội tăng bình quân 55.000 người/năm (trong đó 22.000 người di cư, chiếm 40%), kèm theo 20.000 lao động thời vụ lúc nông nhàn. Thành phố Hồ Chí Minh tiếp nhận khoảng 70.000 lao động thời vụ/năm.
- Phân mảng thị trường sâu sắc giữa lao động thành thị và nông thôn; khu vực chính thức và phi chính thức; doanh nghiệp nhà nước và khu vực dân doanh.
- Đặc điểm 3: Thị trường sức lao động đang trong quá trình hình thành và chuyển đổi mạnh.
- Mỗi năm lực lượng lao động tăng thêm khoảng 1,2 triệu người. Tỷ lệ lao động làm công ăn lương tăng từ 17,9% (giai đoạn 1992-1993) lên 19,48% (giai đoạn 1997-1998); tại thành thị tăng từ 41,69% lên 45,28%, tại nông thôn tăng từ 12,16% lên 13,14%. Cơ cấu lao động dịch chuyển chậm: năm 2000, nông nghiệp vẫn chiếm khoảng 60% tổng lao động xã hội, công nghiệp - xây dựng gần 17%, dịch vụ trên 23%.
2. Khái niệm và phân loại thất nghiệp
- Khái niệm: Dưới góc độ pháp lý, tác giả định nghĩa: "Thất nghiệp là hiện tượng xã hội phản ánh tình trạng toàn bộ số người có khả năng lao động, ở độ tuổi do pháp luật quy định mà không có việc làm hoặc đang tìm việc làm mà không có thu nhập nên Nhà nước phải có chính sách hỗ trợ." Người thất nghiệp là cá nhân trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, hiện không có việc làm và đang tích cực tìm kiếm việc làm.
- Phân loại thất nghiệp theo các tiêu chí:
- Theo ý chí người lao động: Thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện.
- Theo thời gian thất nghiệp: Thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp tiềm tàng và thất nghiệp dai dẳng.
- Theo nguyên nhân: Thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp chu kỳ.
- Các hình thức biểu hiện đặc thù tại Việt Nam: Thất nghiệp hữu hình tích cực, thất nghiệp hữu hình thụ động, thất nghiệp trá hình (vô hình), thất nghiệp toàn phần, thất nghiệp từng phần (bán thất nghiệp) và thất nghiệp thời vụ.
3. Chế độ bảo hiểm thất nghiệp và mối quan hệ với bảo hiểm xã hội
Luận án làm rõ chế độ bảo hiểm thất nghiệp là một bộ phận của hệ thống an sinh xã hội, bao gồm các nội dung: đối tượng tham gia/hưởng, điều kiện và mức hưởng trợ cấp, cơ chế quản lý quỹ và các dịch vụ hỗ trợ việc làm, đào tạo lại nghề. Bảo hiểm thất nghiệp có mối quan hệ hữu cơ với bảo hiểm xã hội nhưng mang tính chất hỗ trợ rủi ro ngắn hạn nhằm duy trì thu nhập và tái hòa nhập thị trường lao động.
Chương 2: Chế độ hỗ trợ người lao động mất việc làm và sự cần thiết khách quan của chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
Chương 2 phân tích sự vận động của pháp luật Việt Nam về giải quyết lao động dôi dư và mất việc làm qua các thời kỳ:
1. Chế độ hỗ trợ mất việc làm trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung
Trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, quan hệ lao động được xác lập theo chỉ tiêu biên chế cứng của Nhà nước. Không tồn tại khái niệm thất nghiệp theo nghĩa kinh tế thị trường mà chỉ có tình trạng "dư thừa lao động", "chờ việc", "việc ít, biên chế nhiều người". Mọi chi phí hỗ trợ do ngân sách nhà nước chi trả bình quân, dẫn đến tâm lý ỷ lại và hiệu quả lao động thấp.
2. Chế độ hỗ trợ mất việc làm trong nền kinh tế thị trường
Khi chuyển đổi cơ chế, Nhà nước đã ban hành khung pháp lý điều chỉnh việc chấm dứt hợp đồng lao động và hỗ trợ mất việc làm:
- Chế độ trợ cấp thôi việc: Áp dụng khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động, do người sử dụng lao động trực tiếp chi trả cho thời gian người lao động đã làm việc tại doanh nghiệp (mỗi năm làm việc được trợ cấp nửa tháng lương cộng phụ cấp nếu có).
- Chế độ trợ cấp mất việc làm: Áp dụng khi người lao động bị mất việc do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ (Điều 17 Bộ luật Lao động), người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm ít nhất bằng 2 tháng lương.
- Chế độ trợ cấp đối với lao động dôi dư khi sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước: Thực hiện theo các nghị định và quỹ hỗ trợ lao động dôi dư của Chính phủ.
3. Đánh giá thực tiễn và sự cần thiết khách quan của bảo hiểm thất nghiệp
- Kết quả đạt được: Bước đầu tạo hành lang pháp lý bảo vệ một phần quyền lợi của người lao động khi mất việc, hỗ trợ quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước.
- Những hạn chế cơ bản:
- Trách nhiệm chi trả dồn trực tiếp lên người sử dụng lao động tại thời điểm doanh nghiệp gặp khó khăn, dẫn đến nguy cơ doanh nghiệp không có khả năng chi trả, trốn tránh trách nhiệm hoặc phá sản thì người lao động mất trắng quyền lợi.
- Mang tính chất bồi thường cơ học một lần, chưa gắn liền với các biện pháp chủ động như tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo lại nghề để người lao động quay lại thị trường.
- Chưa huy động được nguồn lực đóng góp chung từ người lao động và sự hỗ trợ điều tiết của Nhà nước thông qua một quỹ tập trung mang tính chia sẻ rủi ro.
- Sự cần thiết khách quan: Thiết lập chế độ bảo hiểm thất nghiệp độc lập là đòi hỏi tất yếu của kinh tế thị trường nhằm chia sẻ rủi ro xã hội, bảo đảm an sinh cho người lao động, giảm áp lực tài chính đột xuất cho người sử dụng lao động và ổn định trật tự xã hội.
Chương 3: Phương hướng xây dựng và thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
Chương 3 xây dựng mô hình lập pháp và các giải pháp thực thi chế độ bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam:
1. Cơ sở xây dựng
- Cơ sở kinh tế - xã hội: Sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài nhà nước và dòng dịch chuyển lao động làm công ăn lương đòi hỏi cơ chế an sinh nhiều tầng nấc.
- Cơ sở chính trị - pháp lý: Thể chế hóa các Nghị quyết của Đảng (Nghị quyết Trung ương 7 khóa VII, Nghị quyết Đại hội VIII, IX, Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX) và cụ thể hóa Điều 140 Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2002.
2. Các nguyên tắc cơ bản và dự kiến nội dung chế độ bảo hiểm thất nghiệp
- Nguyên tắc xây dựng:
- Đảm bảo tính chia sẻ rủi ro giữa các chủ thể (Nhà nước, doanh nghiệp, người lao động).
- Kết hợp giữa hỗ trợ tài chính (trợ cấp tiền mặt) với các biện pháp chủ động (tư vấn việc làm, đào tạo lại nghề).
- Phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và khả năng đóng góp của các bên trong từng giai đoạn.
- Phạm vi và đối tượng áp dụng:
- Giai đoạn đầu áp dụng bắt buộc đối với người lao động làm công ăn lương có giao kết hợp đồng lao động từ 1 năm trở lên trong các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động thuộc các thành phần kinh tế.
- Điều kiện hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp:
- Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ thời gian tối thiểu luật định (dự kiến từ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi mất việc).
- Bị mất việc làm không do lỗi kỷ luật sa thải hoặc tự ý đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.
- Đã đăng ký thất nghiệp tại cơ quan lao động có thẩm quyền.
- Chưa tìm được việc làm sau một khoảng thời gian chờ nhất định kể từ ngày đăng ký.
- Mức hưởng và thời gian hưởng:
- Mức trợ cấp tính theo tỷ lệ phần trăm mức tiền lương đóng bảo hiểm của những tháng liền kề trước khi thất nghiệp (nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu nhưng không làm giảm động lực tìm việc).
- Thời gian hưởng quy định có thời hạn (từ 3 đến 12 tháng tùy thuộc vào thời gian đã tham gia đóng bảo hiểm).
- Cơ chế tài chính và Quỹ bảo hiểm thất nghiệp:
- Nguồn hình thành từ sự đóng góp ba bên: Người lao động đóng một tỷ lệ % tiền lương; Người sử dụng lao động đóng một tỷ lệ % quỹ lương; Nhà nước hỗ trợ một phần từ ngân sách.
- Quỹ được quản lý tập trung, độc lập, hạch toán minh bạch trong hệ thống quỹ an sinh xã hội.
3. Quản lý, tổ chức thực hiện và các biện pháp hỗ trợ việc làm
- Xây dựng mô hình cơ quan quản lý và chi trả bảo hiểm thất nghiệp gắn kết chặt chẽ giữa hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam (thu và chi trả tài chính) và mạng lưới Trung tâm Dịch vụ việc làm thuộc ngành Lao động – Thương binh và Xã hội (tiếp nhận đăng ký thất nghiệp, thẩm định điều kiện, tư vấn, giới thiệu việc làm và đào tạo nghề).
- Triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ người thất nghiệp: miễn/giảm học phí đào tạo lại, ưu đãi vay vốn tạo việc làm, kết nối thông tin thị trường lao động.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án là công trình khoa học chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về thất nghiệp và chế độ bảo hiểm thất nghiệp dưới góc độ khoa học luật học tại Việt Nam.
- Làm rõ các khái niệm mang tính phương pháp luận pháp lý: phân biệt bản chất giữa "thất nghiệp" (hiện tượng kinh tế - xã hội) và "người thất nghiệp" (chủ thể cụ thể của quyền an sinh); phân định rõ giữa "người không làm việc", "người thất nghiệp" và "người hưởng bảo hiểm thất nghiệp".
- Luận giải sâu sắc 3 đặc điểm của thị trường sức lao động Việt Nam và làm rõ các hình thức biểu hiện đặc thù của thất nghiệp trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế, tạo cơ sở lý luận cho việc hoạch định chính sách an sinh xã hội.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Khảo sát, đánh giá toàn diện những bất cập của các chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm và chế độ đối với lao động dôi dư theo quy định pháp luật hiện hành, chỉ rõ gánh nặng tài chính đè nặng lên doanh nghiệp và sự thiếu hụt cơ chế chia sẻ rủi ro.
- Đề xuất khung pháp lý hoàn chỉnh cho chế độ bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam: xác định đối tượng áp dụng, điều kiện hưởng, thời gian, mức hưởng, phương thức đóng - hưởng quỹ bảo hiểm thất nghiệp ba bên và mô hình tổ chức bộ máy thực thi.
- Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ cho quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động và xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội trong giai đoạn tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu chế độ bảo hiểm thất nghiệp áp dụng đối với khu vực lao động chính thức làm công ăn lương có quan hệ hợp đồng lao động. Các nhóm lao động phi chính thức, lao động nông nghiệp tự do chưa được thiết kế trong mô hình bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc do điều kiện quản lý và khả năng đóng góp tại thời điểm nghiên cứu chưa cho phép.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu mở rộng cơ chế bảo hiểm việc làm hoặc an sinh tự nguyện đối với khu vực kinh tế phi chính thức; hoàn thiện cơ chế kết nối giữa chính sách bảo hiểm thất nghiệp với các chính sách chủ động về thị trường lao động và lưới an sinh xã hội toàn dân.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý và lập pháp: Cung cấp cơ sở lý luận và đề xuất kỹ thuật lập pháp cho Quốc hội, Chính phủ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong việc soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp (như Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 và Luật Việc làm sau này).
- Đối với nghiên cứu và giảng dạy: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Lao động và An sinh xã hội, Kinh tế lao động và Quản lý công.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa thế nào về "thất nghiệp" và "người thất nghiệp" dưới góc độ pháp lý?
Luận án xác định thất nghiệp là hiện tượng xã hội phản ánh tình trạng toàn bộ số người có khả năng lao động, ở độ tuổi do pháp luật quy định mà không có việc làm hoặc đang tìm việc làm mà không có thu nhập nên Nhà nước phải có chính sách hỗ trợ. Người thất nghiệp là cá nhân trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, hiện đang không có việc làm và đang đi tìm việc làm.
2. Ba đặc điểm lớn của thị trường sức lao động Việt Nam được luận án phân tích là gì?
- Thị trường mất cân đối cung - cầu nghiêm trọng, cung lớn hơn cầu cả về quy mô và cơ cấu, chất lượng lao động qua đào tạo còn thấp (năm 2004 mới đạt 22,5%).
- Thị trường mang tính tự phát cao, phân tán và chia cắt, quan hệ cung - cầu lỏng lẻo với dòng di cư tự do lớn và sự phân mảng giữa thành thị - nông thôn, chính thức - phi chính thức.
- Thị trường đang trong quá trình hình thành và chuyển đổi mạnh với tốc độ tăng trưởng lực lượng lao động bình quân 1,2 triệu người/năm, tỷ lệ làm công ăn lương gia tăng.
3. Tại sao chế độ trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm trước đây chưa đáp ứng được yêu cầu của kinh tế thị trường?
Các chế độ này đặt toàn bộ trách nhiệm chi trả tài chính một lần trực tiếp lên người sử dụng lao động tại thời điểm doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng hoặc thu hẹp sản xuất. Cơ chế này thiếu tính chia sẻ rủi ro cộng đồng, không có quỹ tích lũy tập trung, dễ dẫn đến việc người lao động không nhận được trợ cấp khi doanh nghiệp phá sản và hoàn toàn thiếu vắng các biện pháp hỗ trợ chủ động như đào tạo lại nghề hay chắp nối việc làm mới.
4. Cơ chế tạo nguồn quỹ bảo hiểm thất nghiệp được đề xuất trong luận án gồm những nguồn nào?
Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được hình thành dựa trên nguyên tắc đóng góp ba bên:
- Người lao động đóng góp theo tỷ lệ phần trăm tiền lương tháng.
- Người sử dụng lao động đóng góp theo tỷ lệ phần trăm quỹ tiền lương trả cho người lao động.
- Nhà nước hỗ trợ một phần từ ngân sách nhà nước.
5. Khái niệm "thất nghiệp" và "chờ việc" trong thời kỳ bao cấp khác nhau như thế nào?
Khái niệm "chờ việc" được dùng trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung xuất phát từ quan niệm Nhà nước phân phối và bao cấp toàn bộ việc làm theo biên chế, người lao động chỉ tạm thời chờ Nhà nước bố trí công việc. Trong kinh tế thị trường, thuật ngữ "thất nghiệp" phản ánh đúng bản chất khách quan của quan hệ mua bán hàng hóa sức lao động, nơi người lao động bị mất việc làm do cạnh tranh, biến động cung cầu và cần cơ chế bảo hiểm xã hội hỗ trợ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Thị Hoài Thu đã giải quyết một cách toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ tính tất yếu khách quan của bảo hiểm thất nghiệp, phân tích sâu sắc các đặc điểm của thị trường sức lao động và chỉ rõ những hạn chế của hệ thống trợ cấp mất việc làm trước đó. Trên cơ sở đó, luận án đã xây dựng khung đề xuất lập pháp hoàn chỉnh về đối tượng, điều kiện, mức hưởng và cơ chế tài chính quỹ bảo hiểm thất nghiệp, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam.