Luận văn Thạc sĩ: việt nam học nghiên cứu giá trị đường đèo hải vân và di

Luận văn thạc sĩ phân tích việt nam học nghiên cứu giá trị đường đèo hải vân và di tích hải vân quan phục vụ phát triển du lịch, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Việt Nam học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

128
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Việt nam học và Giá trị Đường

Việt nam học là lĩnh vực nghiên cứu đa chiều về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam. Trong đó, khái niệm "giá trị đường" đề cập đến những giá trị tinh thần, đạo đức và thẩm mỹ được thể hiện qua các con đường, lối đi và không gian công cộng truyền thống. Luận văn ThS về chủ đề này nhằm khám phá sâu sắc mối quan hệ giữa không gian địa lý và giá trị văn hóa trong bối cảnh phát triển đô thị hiện đại.

1.1. Khái niệm Việt nam học

Việt nam học bao gồm các lĩnh vực như lịch sử, văn hóa, xã hội học và địa lý nhân văn. Đây là nền tảng lý thuyết quan trọng cho các nghiên cứu về bản sắc và phát triển quốc gia. Việt nam học giúp chúng ta hiểu sâu hơn về những giá trị cốt lõi của dân tộc Việt.

II. Giá trị Đường trong Bối cảnh Văn hóa Truyền thống

Đường trong không gian truyền thống Việt Nam không chỉ là tuyến giao thông mà còn là biểu tượng của sự kết nối, trao đổi và phát triển. Các con đường cổ như Đường Tơ Lụa hay các tuyến đường trong thành phố cổ thể hiện những giá trị về cộng đồng, thương mại và văn minh. Nghiên cứu về giá trị đường giúp bảo tồn và phát triển di sản văn hóa.

2.1. Đường Tơ Lụa và Ý nghĩa Văn hóa

Đường Tơ Lụa không chỉ là tuyến thương mại mà còn là cầu nối văn hóa giữa Đông và Tây. Nó thể hiện giá trị về mở cửa, trao đổi và hội nhập. Qua các con đường này, Việt Nam đã truyền tải những sản phẩm, ý tưởng và giá trị tinh thần quý báu.

III. Phương pháp Nghiên cứu cho Luận văn ThS

Để nghiên cứu giá trị đường hiệu quả, luận văn ThS cần áp dụng đa phương pháp. Phương pháp thực địa, phỏng vấn cộng đồng, phân tích lịch sử và điều tra xã hội học là những công cụ chính. Kết hợp giữa lý thuyết Việt nam học và thực tiễn địa phương sẽ tạo nên một nghiên cứu toàn diện và có giá trị thực tiễn cao.

3.1. Phương pháp Thực địa và Phỏng vấn

Phương pháp thực địa cho phép nhà nghiên cứu tiếp xúc trực tiếp với cộng đồng và không gian đường phố. Phỏng vấn sâu với người dân địa phương giúp hiểu rõ cách mà đường phố ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày và bản sắc văn hóa của họ.

IV. Kết luận và Ứng dụng Thực tiễn

Luận văn ThS về giá trị đường trong Việt nam học có ý nghĩa quan trọng cho việc bảo tồn di sản và quy hoạch đô thị bền vững. Những kết quả nghiên cứu có thể hướng dẫn các nhà hoạch định chính sách trong việc phát triển không gian công cộng. Từ đó, chúng ta có thể tạo nên những con phố vừa hiện đại vừa giữ được bản sắc văn hóa Việt Nam.

4.1. Đóng góp cho Phát triển Bền vững

Hiểu rõ về giá trị đường giúp chúng ta xây dựng các không gian công cộng vừa đáp ứng nhu cầu hiện đại vừa giữ gìn giá trị truyền thống. Điều này góp phần vào sự phát triển bền vững của các thành phố Việt Nam và nâng cao chất lượng cuộc sống.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CO SO LY LUAN, TONG QUAN VE DUONG DEO HAI VAN VA DI TICH HAI VAN QUAN 1.Cơ sở lý luận về di tích lịch sứ văn hóa và danh lam thắng cảnh 1. Các khái niệm Ngày nay công chúng có thê tiếp cận và hưởng thụ các giá trị văn hóa của nhiễu quốc gia, nhiều dân tộc khác nhau. Một trong những chứng thực tiêu biểu nhất của lịch sử - văn hóa đó chính là những đi tích tôn tại đến ngày nay. Hiện vẫn còn nhiều tôn tại, nhiêu định nghĩa khác nhau vẻ di tích lịch sứ - van hoa: Pháp lệnh báo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam, thăng cánh năm 1984.

lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm vẻ di tích lịch sứ, văn hóa: “°Đj tích lịch sử, văn hỏa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tắc phẩm có giả trị lịch sử, khoa học nghệ thuật, giả trị văn hóa hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quả trình phát triển văn hóa, xã hội” [32]. Theo Luat di sản vấn hỏa: “Di tích lịch sứ vấn hỏa la cong trình xảy dựng, địa điểm và các di vật, cổ vát, bảo vát quốc gia thuốc công trinh, địa điểm đỏ cỏ giả trị lịch sử, văn hỏa, khoa học” [23]. có thê hiểu rộng ra các công trình xây dựng, địa điểm đó là các tòa nhả, đải tưởng niệm, quảng trưởng, khu phô. gắn với các sự kiện lịch sử, các di chỉ khảo cô, các địa điểm gan với hoạt động tôn giáo tin ngưỡng.

Ở một số tải liệu khác, cụ thé 1a trong sách Đại từ điển tiếng Viết, di tích lịch sử văn hóa được hiểu là ' Tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm. tài liều có giả trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu lạt” [27, tr414]. Ngoải ra, để cập đến di tích lịch sử văn hóa, trong Hiển chương Venice — hiến chương quốc tế về bảo tên và trùng tu di tích va di chỉ (năm 1964), tại Điều I có định nghĩa: '*Di tích lịch sứ không chỉ lả một công trình kiến trúc mà còn cả các khu đô thị hoặc nồng thôn trong đó được tìm thấy bằng chứng của mót nền văn minh cụ thể, phat triển quan trọng hay một sự kiến lịch sứ. Khải niệm này không chỉ áp dựng với những công trình nghé thuật lớn mà cả với những công trình khiêm tổn đã hội tụ được các ý nghĩa văn hóa của quả khứ ” [ L6].

Ngoài việc đưa ra những khái niệm vẻ di tích lịch sử, văn hóa các pháp lệnh và luật còn đưa ra các khái niệm về danh lam thăng cảnh. Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam, thăng cảnh năm 1984, lần đầu tiên đã đưa ra khải niệm về danh lam thăng cảnh: *Danh lam thẳng cảnh là những khu vực thiên nhiên có cảnh đẹp hoặc có công trình xây dựng cô đẹp nồi tiếng " [32]. Theo Luật di sản văn hóa: “Danh lam thẳng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học. So sánh những phát biêu trên, khái niệm Di tích lịch sứ, văn hoá vả danh lam thắng cảnh được xác định trong Luật đi sản văn hoá 2002 mang tinh bao quat, day đủ hơn.

Thứ nhất, khái niệm di tích lịch sử, văn hoá được quy định khải quát vả đầy đủ hon trong Luật di san văn hoá. Di tích lịch str, vin hoa khong chi là những công trình xây dựng, địa điểm mà còn bao gồm các di vật, cô vật, bảo vật quốc gia của công trình, địa điểm đó. Thứ hai, khải niệm danh lam thang cảnh được Luật di sản vẫn hoá xác định trên hai phương diện: “định tính” (giả trị ve mat tham mỹ) vả “định lượng” (giá trị lịch sử khoa học). Như vậy, không chỉ pháp luật của Nhà nước mà cả giới nghiên cứu, chuyên môn đều quan niệm Di tích lịch sử là những di tích có giả trị về mặt lịch sử, văn hoá, khoa học.

nghệ thuật và liên quan đến quá trình phát triên văn hoá, xã hội của đất nước. Còn danh lam thắng cảnh là những khu vực có cảnh đẹp được mọi người biết đến vả được thừa nhận rộng rãi. Đề công nhận Di tích lịch sử - văn hóa, trong Bộ Luật Di sản văn hóa 2002 phải có một trong các tiêu chí sau đây: - Công trình xây đựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sứ tiêu biéu trong quá trình dựng nước và giữ nước. - Công trình xây đựng, địa điểm găn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đât nước.

- Công trình xây dựng, địa điêm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biêu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến. - Địa điểm có giá trị tiêu biêu về khảo cô. - Quân thê các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biêu về kién trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử [23, tr. Đồng thời cũng có quy định vẻ danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây: - Cánh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thâm mỹ tiêu biểu.

- Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thủ hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dâu tích vật chất vẻ các giai đoạn phát triên của trái đất. Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thăng cảnh (sau đây gọi la di tích) được chia thành: - Di tích cap tinh 1a di tích có giá trị tiêu biêu của địa phương. - Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biêu của quốc gia. - Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biêu của quốc gia.

Đấi với các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi chung là di tích) được xếp hạng cân có những tiêu chí ở các cấp độ khác nhau. Theo đó: Di tích cap tinh là đi tích có giá trị tiêu biêu cúa địa phương, bao gồm: - Công trinh xây dựng, địa điểm ghi dâu sự kiên, mốc lịch sử quan trọng của địa phương hoặc gẵn với nhân vật có ảnh hướng tích cực đến sự phát triển của địa phương trong các thời kỳ lịch sử. - Công trinh kiến trúc, nghệ thuật, quần thẻ kiến trúc, tông thê kiến trúc đõ thị và địa điểm cư trú có giá trị trong phạm vi địa phương: - Địa điểm khảo cô có giá trị trong phạm vi địa phương. - Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị trong phạm vi địa phương.

Di tích quốc gia là đi tích có giá trị tiêu biêu của quốc gia, bao gồm: - Công trình xây dựng, địa diém ghi dau su kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gan với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học noi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đôi với tiền trình lịch sử của dân tộc. - Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quan thé kiến trúc, tông thê kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiều biéu trong cac giai doan phat trién kién tric, nghé thuat Viét Nam. - Địa điểm khảo cô có giá trị nôi bật đánh dẫu các giai đoạn phát triên của văn hỏa khảo cô. - Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc.

nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giả trị khoa học về địa chất, dia mao, dia ly, da dang sinh học, hệ sinh thái đặc thù. Di tích quốc gia đặc biệt là đi tích có gia trị đặc biệt tiêu biêu của quốc gia. bao gồm: - Công trình xây đựng, địa điêm gắn với sự kiện đánh dấu bước chuyên biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biéu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dan téc. - Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quan thé kiến trúc, tông thê kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị đặc biệt đánh dâu các giai đoạn phát triên kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam.

- Địa điêm khảo cô có giá trị nỗi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cô quan trọng của Việt Nam và thể giới. - Cánh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt của quốc gia hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù nôi tiếng cúa Việt Nam và thể giới. Và căn cứ vào giá trị của từng di tích thì chủ tịch địa phương hoặc bộ trưởng có 10 thấm quyên ký và công nhận di tích đó theo từng cấp độ khác nhau. Thâm quyên quyết định xếp hạng di tích được quy định như sau: - Chú tịch Ủy ban nhân đân cấp tỉnh quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh, cấp bằng xếp hạng di tích cấp tỉnh.

- Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thẻ thao vả Du lịch quyết định xếp hạng di tích quốc gia, cấp bằng xếp hạng di tích quốc gia. - Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, cấp bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề nghị Tô chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích tiêu biêu của Việt Nam vảo danh muc di san thé ĐIỚI. - Trong trưởng hợp di tích đã được xếp hạng mả sau đó có đủ cãn cứ xác định là không đủ tiêu chuẩn hoặc bị hủy hoại không cỏ khả năng phục hỏi thỉ người có thâm quyền quyết định xếp hạng di tích nảo có quyền ra quyết định hủy bỏ xếp hạng đối với di tích đó. Từ những khái niêm vả quy định trên đã góp phần cung cấp cơ sở lý luận xác thực, để có thê và nhận định đường đẻo Hải Vân và đi tích Hải Vân Quan là sự tông hoà của một di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thăng cảnh không chỉ của hai địa phương Thừa Thiên Huê và Đà Nẵng mà của cả nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ