Chương I: CÁC KHÁI NIỆM. LÝ THUYẾT LIEN QUAN TOI DE TAI VA TONG QUAN DIA BAN NGHIEN CỨU 1. Các khái niệm, lý thuyết liên quan Trong quá trình tìm hiệu vẫn đề *Báo tôn va phat huy gid trị nhà cô ở thành phổ Hội 4n", để nghiền cứu một cách thấu đáo các nội dung của đẻ tài, tác giả cho rằng cản phải làm rõ nội hàm của một số khái niêm và thuật ngữ liên quan sau đây: Lăn hóa: Văn hóa là một khái niệm khá rộng, đứng ở mỗi phương diện nghiền cứu khác nhau sẽ có một lí giải khác nhau. Chính vì vậy, cho đến nay có rất nhiều định nghĩa của các nhả nghiên cứu trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, định nghĩa có tính phô biến được khá nhiều người sử dụng là của PGS. Tran Ngoc Thêm: “lăn hóa là một hệ thông hữu cơ các gid tri vat chất và tỉnh thần do con người sảng tạo và tích lũy qua quả trình hoạt động thực tiên, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội " (31, tr. Giá trị và giá trị văn hỏa: Giả trị là hệ thông những đánh giá mang tính chủ quan Của con người về bất cứ một hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái đỏ là cân, là tốt, là hay. là đẹp, nói theo cách của các nhà triết học phương Tây một thời, đó chính là những cái được con người cho là chân, thiện, mỳ, giúp khăng định và nâng cao bán chất người.
Một khi những nhận thức giá trị ây đã hình thành và định hình thì nó chỉ phối cách suy nghĩ. niềm tin, hành vi, tình cảm cúa con người [32, tr. Nêu xem văn hóa là hệ thống các giá trị thì giá trị văn hóa được sáng tạo và kết hợp tinh trong quá trình hoạt động thực tiễn của mỗi cộng đông trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội nhất định Giá trị văn hóa hướng đến thóa măn những nhu câu và khát vong của cộng đồng về những điều tốt đẹp, từ đó bồi đắp vả nâng cao bản chất người. Di sản văn hóa: DỊ sản văn hóa là một khải niệm rộng, chỉ toàn bộ những sản phâm vật chất, tính thần cỏ giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thẻ hệ này qua thế hệ khác.
Trong pháp lệnh bảo vệ và sứ dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh ban hành ngảy 04 tháng 4 năm 1984, di tích lịch sử văn hóa được quy định là những công trình xây dựng, địa điêm. đỏ vật, tài liệu và các tác phâm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hóa khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triên văn hóa xã hội. Và theo điều I của Luật Di sản Văn hóa quy định, di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thé va di sản văn 9 hóa vật thê, là sản phâm tinh thân, vật chất, có giá trị lịch sứ, văn hóa, khoa học. được lưu truyền tử thế hệ này qua the hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Dị sản văn hóa vật thê và phí vật thể: Di sản văn hóa vật thê là sản phâm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gôm di tích lịch sử - văn hóa, đanh lam thắng cảnh, đi vật, cô vật, bảo vật quốc gia. Di san văn hóa phi vật the là sản phẩm tỉnh thân găn với cộng đông hoặc cá nhân, vật thể vả không gian văn hóa liên quan, cô giá trị lịch sử, văn hóa. khoa học, thể hiện bản sắc của công đông, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền tử thê hệ nảy sang thể hệ khác băng truyền miệng, truyền nghê, trình diễn vả các hỉnh thức khác [23. Di tích lịch sử - văn hóa: DI tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điềm và các di vật, cô vật, bảo vật quốc gia thuộc công trinh, địa điểm đó có giá trị lịch sứ, văn hóa.
khoa học [23, tr. Đi vật: là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử. văn hóa, khoa học [23, tr. Cổ vật: là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, có tử một trăm năm tuôi trở lên [23, tr.
Bảo vật quốc gia: là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiểm tiêu biểu của đất nước vẻ lịch sử, văn hóa. Báo quản di tích lịch sử - văn hóa, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia: Bảo quản di tích lịch sử - vãn hóa, di vật, cô vật, bảo vật quốc gia lả hoạt động nhằm phỏng ngừa và hạn chế những nguy co lam hư hỏng mà không lâm thay đổi những yếu tô nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cô vật, bao vat quốc gia [23, tr. Tu bỏ và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thẳng cảnh: Tu bô di tích lich sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thăng cảnh. Phục hỗi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thăng cảnh là hoạt đông nhăm phục đựng lại đi tích lịch sử - văn hóa, danh lam thăng cảnh đã bị hủy hoại trên cơ sở các cử liệu khoa học về đi tích lịch sứ - văn hỏa, danh lam thắng cánh đó [23, tr.
Yếu tổ gốc cầu thành đi tích: là yêu tô có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thâm mỹ, thê hiện đặc trưng của đi tích lich sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh [23, tr. Tỉnh chân xác: Theo Hướng dẫn Quản lý các Di sản Văn hóa Thê giới (Bernard M. Feilden va Jukka Jokilehto, ICCROM 1998), tính chân xác có nghĩa là một di sản mang đậm nét độc đáo và xác thực ứng với năm xây dựng hoặc với niên đại của nó. Bên cạnh bảo tôn tính chân xác của văn hoá vat thé, can chú Vv đến việc bảo tôn tỉnh chân xác của văn hóa phi vật thê.
Điều đặc biệt ở châu Á là các giá trị văn hóa phi vật 10 thê quan trọng gắn liền với các công trình vả giúp giữ gìn nét thâm mỹ độc đáo cúa công trình. Do các công trình ở Châu Á thường sử dụng các vật liệu dé bi hu hong nhu gỗ nên việc bảo tôn tính chân xác của các công trình đòi hỏi chỉ được tu bố hoặc thay thé các bộ phận một cách hợp lý [49, tr. Di sản đô thị: Di sản đô thị được hiểu là hình thái cầu trúc cư trủ của một đô thị đã hình thành ở một giai đoạn hoặc trong toản bộ lịch sử phát triển của thành phô. Có giá trị về mặt bỏ cục, về không gian kiến trúc đô thị và văn hỏa cư trú truyền thông.
Di sản đô thị có tính nhị nguyên, vừa là sản phẩm sáng tạo từ văn hóa của cộng người, đồng thời lại là môi trưởng bao chứa tất cả những hoạt động vãn hóa ấy. Do đỏ, di sản đô thị là một di sản phức hợp, quý giá vả có sự tiệp nối diễn ra ngay trong lòng di san [64, tr. Bao ton di san dé thi: Bao tồn đi sản đô thị không phải là giữ nguyên các công trinh vả ngừng các hoạt động sinh hoạt của dân cư sinh sống trong các công trình đó đẻ biến thành các bảo tàng, mà ngược lại phải làm sao đạt được mục tiêu vừa bảo tôn tôn tạo, vừa tái sử dụng và phát triên đồng thời những giá trị cúa di sản, đảm bảo sự hải hòa với nhu cầu của dân cư trong các hoạt động phát triên kinh tế. Bảo tôn đi sản kiến trúc: Bảo tồn di san kiến trúc là tiền trình của công việc đảnh giá một địa điêm/công trình cụ thê nhằm giữ lại những giá trị đặc trưng của di sản đó, bao gom các công việc được tiên hành một cách thường xuyên như gia cố, tôn tạo, phục hôi, tu bỏ.
hoặc là sự kết hợp của các hoạt động này. Tông quan địa bàn nghiên cứu 1. Điều kiện tự nhiên Về vị trí địa lý, thành phố Hội An nam ở vùng cửa sông - ven biên, hạ lưu sông Thu Bồn, có tọa độ địa lý 15°53'` vĩ Bắc, 108220 kinh Đông, cách thành phố Đảã Nang 30 km vẻ phia Đông Nam và cách thành phố Tam Kỳ - tỉnh ly tinh Quang Nam chừng 50 km vẻ phia Bắc [54, tr. Với diện tích tự nhiên 60 kmỶ (trong đó đất liên chiêm 44 5 km”) song địa hinh, địa mạo Hội An lại rất phong phú, đa dạng, vừa có đồng băng bị chia cắt bởi hệ thống sông lạch chăng chịt, vừa có biên và hải đảo, lại vừa có núi rừng.
Chính yếu tô môi trường tự nhiên như vậy đã cung cấp nguôn tài nguyên thiên nhiên tương đôi đa đạng và dôi dào với các loại lâm, thô, hải sản. Vùng đất Hội An là nơi gặp gỡ của các nguồn sông lớn ở xứ Quảng. đó là nguồn Thu Bồn, nguồn Vu Gia, nguồn Chiên Đàn và sông Cô Cỏ [Š4, tr. Có thể nói, các con sông nảy đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triên kinh tế - văn hóa của cả xứ Quảng.
Đó là huyết mạch giao thông, là nguồn phù sa vô tận bôi đấp lên nhiều vùng đất trủ phú, góp phan quan trong tạo nên sắc thái văn hỏa của xứ Quảng từ xưa. Các nguồn sông này hợp lưu với nhau ở Hội An trước khi đồ ra Đại Chiêm hải 11 khâu - một cứa biên đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với Hội An và xứ Quảng trong suốt tiền trình lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất này. Ngoài khơi xa là quân đảo Cù Lao Chàm - điêm dừng chân đề trao đôi hàng hóa, lẫy nước ngọt và là điềm hoa tiêu cho các thương thuyền trên con đường hàng hái và ra vào Cửa Đại buôn bán với cảng thị Hội An. Nhờ vảo vị trí này mà Hội An có điều kiện giao thương với các vùng của xứ Quảng.
Từ Hội An ngược theo nguôn Vụ Gia, Thu Bồn có thê đến được các vùng núi, trung du ở phía Tây. Theo nguồn Chiên Đàn có thê đến được cả vùng phía Nam. Theo sông Để Võng có thê vươn lên phía Bắc nỗi thông Cửa Đại - Hội An với Cửa Hản - Đả Nẵng [35, tr. Vẻ khi hậu, thủy văn, vùng đất Hội An có hai mùa rõ rệt, mùa khô từ khoảng tháng 2 đến tháng 8.
mùa mưa kéo dài từ tháng 9, tháng 10 đến tháng Giêng năm sau.