CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Một số khái niệm cơ bản về lao động, việc làm và thất nghiệp 1. Khái niệm về lao động, sức lao động - Lao động: Có nhiều cách tiếp cận và hiểu khác nhau về lao động nhưng suy cho cùng thì lao động là hoạt động đặc thù của con người, phân biệt con người với các loài động vật khác. Bởi vì, khác với các loài động vật, lao động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức, tác động vào giới tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người.
Lịch sử phát triển của xã hội đã chứng minh vai trò quyết định của lao động với quá trình tiến hóa của loài người và quá trình phát triển kinh tế - xã hội.Mác: “Lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc vào bất kỳ hình thái xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnh cửu làm môi giới cho sự trao đổi giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản thân sự sống của con người [5, tr 61]”. Ăng ghen khẳng định rằng: “Lao động là nguồn gốc của mọi của cải. Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải. Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người [6, tr.
Quá trình sản xuất vật chất bao giờ cũng được kết hợp bởi ba yếu tố: lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Trong bất kỳ nền sản xuất nào, kể cả nền sản xuất hiện đại, lao động bao giờ cũng là nhân tố cơ bản, là điều kiện không thể thiếu của sự tồn tại và phát triển đời sống xã hội loài người. Như vậy, lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các 8 vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình. Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hoá và xã hội, là nhân tố quyết định của bất cứ quá trình sản xuất nào.
- Sức lao động: Theo giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin: “Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực của con người được sử dụng trong quá trình lao động. Nó là khả năng lao động của con người, là một yếu tố vật chất, một điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất. Sức lao động là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội [10, tr. Như vậy, sức lao động được hiểu bao gồm phần thể lực và trí lực cùng tồn tại trong một người lao động.
Sức lao động là khả năng lao động của con người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất và là lực lượng sáng tạo chủ yếu của xã hội. Nhưng sức lao động mới chỉ là khả năng của lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. Khái niệm lực lượng lao động Theo quan điểm của tổ chức lao động quốc tế (ILO): Lực lượng lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế đang có việc làm và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm. Điều 6 và 145 của Bộ luật Lao động Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định độ tuổi tối thiểu và tuổi tối đa của người lao động: Đối với nam từ 15 - 60 tuổi, đối với nữ từ 15 - 55 tuổi.
Như vậy khái niệm lực lượng lao động chỉ có thể được thống nhất như sau: Lực lượng lao động là những người đủ từ 15 tuổi trở lên, có việc làm và những người thất nghiệp. Khái niệm này về cơ bản thống nhất với quan điểm của ILO cũng như quy định hiện nay của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội và Tổng cục Thống kê về lực lượng lao động (tức dân số hoạt động kinh tế), chỉ khác là những người thất nghiệp được tính vào lực lượng lao động và chỉ tính trong giới hạn độ tuổi lao động (đối với lao động nam 15 - 60 tuổi, lao động nữ 15 - 55 tuổi). 9 Lực lượng lao động (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế hiện tại) bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên có việc làm (đang làm việc) và những người thất nghiệp trong thời kỳ tham chiếu [12, tr.107]; cụ thể; Nhân khẩu từ 15 tuổi trở lên Làm việc Không làm trong 7 ngày việc trong 7 qua ngày qua Có việc làm Không có (đang nghỉ tạm thời) việc làm - Tìm việc và sẵn Muốn làm việc Không tìm việc Làm việc Làm việc < 35 ≥ 35 giờ trong sàng làmviệc; nhưng không tìm trừ 1 số lý do: giờ trong 7 việc vì: - Tạm nghỉ do - Sẵn sàng làm việc 7 ngày qua ngàyqua nhưng không tìm việc do: - Tin là không có doanh nghiệp Tạm nghỉ do doanh việc; ngừng sảnxuất; nghiệp ngừng sản xuất; - Không có việc - Đợi kết quả Đợi kết quả xin việc; thíchhợp; xinviệc; không sẵn sàng làm Muốn và sẵn sàng làm Chuẩn bị khai trương - Chuẩn bị khai Không muốn hoặc - Không biết tìm ở trương doanh thêm giờ doanh nghiệp; Do thời đâu/Bằng cách thêm giờ nghiệp. tiết xấu, ốm đau, nghỉ nào.
việc riêng, thờivụ Và/hoặc Đã Chưa Đã Chưa từng từng không từng từng làm làm sẵn sàng làm làm việc việc CÓ VIỆC LÀM THIẾU làm việc ĐẦY ĐỦ VIỆC LÀM việc việc KHÔNG LÀM CÓ VIỆC LÀM THẤT NGHIỆP VIỆC THOÁI CHÍ LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG KHÔNG THUỘC LLLĐ Sơ đồ 1.1: Sơ đồ xác định lực lượng lao động Đặc trưng của LLLĐ là các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng. Trong đó, những chỉ tiêu quan trọng là: số lượng, độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, số người đang đi học, số người đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và sự phân bố theo 10 lĩnh vực, theo ngành, theo lãnh thổ. Mức tăng LLLĐ là sự chênh lệch giữa số dân cư đến độ tuổi lao động và số dân cư đến độ tuổi nghỉ hưu. Trong quá trình phát triển của sản xuất và đời sống xã hội, chất lượng LLLĐ cũng không ngừng được tăng lên.
Các chỉ tiêu thường được dùng để đánh giá chất lượng lực lượng động là: trình độ văn hoá, khả năng tiếp thu của người lao động, trình độ chuyên môn kỹ thuật, mức độ lành nghề, kinh nghiệm thực tiễn, trình độ quản lý, phong cách làm việc và sức khoẻ. Khái niệm về việc làm Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm sáng tỏ khái niệm việc làm. Ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp… người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế, không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm.
Nếu lao động là quá trình tiêu dùng sức lao động, thì quá trình đó chỉ có thể diễn ra khi đã được dựa trên giả định những tiền đề vật chất cho quá trình đó đã đầy đủ. Trên bình diện một quốc gia cụ thể, thì quá trình lao động sản xuất của bộ phận dân cư có sức lao động lại được giả định trên cơ sở số lượng việc làm. Do đó, việc làm không chỉ diễn ra trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, mà cả quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, trong đó liên quan đến các lợi ích kinh tế và luật pháp khi tạo lập đầy đủ các yếu tố vật chất để quá trình làm việc diễn ra. Như vậy, thực chất của việc làm là sự kết hợp của người lao động biểu hiện cụ thể qua việc người lao động dùng sức lao động của bản thân tác động vào tư liệu sản xuất.
Với quan niệm này, khái niệm việc làm là chỉ một chổ làm việc cụ thể nào đó của quá trình lao động được diễn ra, nhằm phân biệt với tình trạng thất nghiệp, không làm việc. Có việc làm là đồng nghĩa với có diễn ra quá trình lao động, có diễn ra quá trình sản xuất của cải vật chất, tinh thần cho xã hội. Nếu không có việc làm thì quá trình sản xuất của cải vật chất cũng như tinh thần của xã hội sẽ bị đình trệ, và do đó xã hội sẽ khó phát triển. Theo quan điểm của Việt Nam, khái niệm việc làm được Điều 9 Bộ luật Lao 11 động ban hành năm 2012 nêu rõ "Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm".
Như vậy, theo quan điểm này việc làm bao gồm hai yếu tố: lao động tạo ra thu nhập và không bị pháp luật cấm. Với quan niệm việc làm như vậy sẽ làm cho nội dung của việc làm được mở rộng, tạo tiền đề giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, đồng thời ngăn chặn những việc làm phi pháp dễ nảy sinh trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Để hiểu rõ hơn khái niệm việc làm, cần làm sáng tỏ khái niệm việc làm đầy đủ và việc làm hợp lý: - Việc làm đầy đủ là sự thoả mãn đầy đủ nhu cầu về việc làm cho mọi thành viên có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân. Cũng có thể nói, việc làm đầy đủ là ở trạng thái mà mỗi người có khả năng lao động, muốn làm việc thì có thể tìm được việc làm trong một thời gian tương đối ngắn.
Tuy nhiên, để đạt tới mức độ đảm bảo việc làm đầy đủ phải có một quá trình nhất định. Quá trình ấy ngắn hay dài là tuỳ thuộc vào trình độ, hoàn cảnh khách quan, chủ quan của từng nước. Ở nước ta hiện nay, tình trạng phổ biến là thiếu việc làm đầy đủ dưới cả hai dạng: thiếu việc làm vô hình và thiếu việc làm hữu hình. Thiếu việc làm vô hình là phân bố không cân đối giữa lao động và các yếu tố sản xuất khác.