CHƯƠNG 1: THUẾ THU NHẬP CAO TỪ TIỀN LƯƠNG TIỀN CÔNG 1. Cơ sở lý thuyết: Theo lý thuyết kinh tế học về thuế thì ba nguyên tắc chính thiết kế một sắc thuế là: công bằng, hiệu quả, khả thi về mặt quản lý. Công bằng là việc chính sách thuế phải đảm bảo tính công bằng theo chiều ngang và tính công bằng theo chiều dọc. Hiệu quả kinh tế là chính sách thuế phải giảm tổn thất phúc lợi vô ích của xã hội.
Tính khả thi về mặt quản lý là việc thu ngân sách không phát sinh nhiều chi phí cho Chính phủ hay cho người nộp thuế 7 .1 Tính khả thi về mặt quản lý: - Chính sách thuế phải giảm chi phí thu được thuế của cơ quan thuế và chi phí tuân thủ thuế của người nộp thuế để tăng hiệu quả thu thuế, muốn vậy chính sách thuế phải được thiết kế đơn giản, dễ thực hiện. Tính đơn giản được thể hiện trong khâu thiết kế và điều chỉnh thực để hạn chế tình trạng tham nhũng trong công tác quản lý thu thuế. Ngoài ra tính đơn giản trong quản lý thuế sẽ làm tăng tính hiệu quả về mặt chi phí khi thực thi chính sách. Thủ tục thuế đơn giản sẽ giúp cho cán bộ thuế và người nộp thuế dễ thực hiện, làm giảm chi phí tuân thủ thuế 8.
- Chính sách thuế phải giảm lợi ích của của việc không tuân thủ thuế và tăng chi phí của việc trốn và tránh thuế khi đó người nộp thuế sẽ không có động cơ trốn và tránh thuế. - Chính sách thuế làm tăng nguồn thu ròng cho ngân sách. Để đánh giá khả năng tạo nguồn thu thuế ròng thì sử dụng các chỉ tiêu: nếu so thu ngân sách với nền kinh tế là tỷ số thuế, độ nổi thuế, độ co giãn của thuế, và tính ổn định của thuế; nếu so thu ngân sách với tiềm năng là năng lực thuế, nỗ lực thuế; nếu so thu ngân sách với hiệu quả hành chính là tỷ lệ thu, chi phí của tỷ lệ thu, thu nợ thuế 9 .2 Tính công bằng: Tính công bằng của chính sách thuế thể hiện là những người ở trong hoàn cảnh tương tự nhau thì phải được đánh thuế như nhau và những người ở hoàn cảnh khác nhau thì có thể được đánh thuế khác nhau. Để đảm bảo tính công bằng thì chính sách thuế cần dựa 7 Richard Goode (1984), “Hệ thống thuế: Phần thảo luận tổng quát”, Tài chính công ở các nước đang phát triển, tr 2.
NXB The Brookings Institution. Bản dịch do Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright thực hiện.Rosengard (2010), Bài giảng Kinh tế học về thuế MPP2, đã trích dẫn.Rosengard (2010), Bài giảng Kinh tế học về thuế MPP2, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 theo các quy tắc khách quan và tổng quát đã được công nhận là hợp lý và đúng đắn. Việc xác định số thuế nộp phải chắc chắn, không thể thương lượng hay tùy tiện.
- Tiêu chuẩn về công bằng là nguyên tắc lợi ích: Chính sách thuế có tính công bằng khi có thể phần nào kiểm soát được đối tượng chịu thuế hay các giao dịch chịu thuế, lợi ích mà người nộp thuế nhận được phải đi đối với nghĩa vụ nộp thuế. - Tiêu chuẩn về công bằng là khả năng chi trả: Những người có khả năng ngang nhau trong việc đóng thuế thì phải đóng thuế như nhau được gọi là công bằng theo chiều ngang; những người có khả năng khác nhau trong việc đóng thuế thì phải đóng thuế khác nhau, tương quan hợp lý đến khả năng nộp thuế được gọi là công bằng theo chiều dọc. Theo nguyên tắc này, thì một người có thu nhập gấp đôi người khác thì phải đóng thuế cao hơn gấp đôi, và khả năng chi trả thường tăng nhanh hơn cơ sở thuế, do đó biểu thuế lũy tiến được xem là công bằng 10 .3 Hiệu quả về kinh tế: - Nguyên tắc quan trọng là cải cách thuế phải làm giảm tổn thất phúc lợi vô ích của xã hội bằng cách tạo ra một sắc thuế có mức thuế suất thấp nhưng có cơ sở thuế rộng hơn. Do tổn thất phúc lợi vô ích của xã hội tỷ lệ với bình phương thuế suất nên một mức thuế suất thấp hơn sẽ làm giảm tổn thất phúc lợi xã hội.
Thuế suất giảm còn làm giảm các hành vi trốn, tránh thuế thông qua các hoạt động chuyển dịch thu nhập để làm thất thu thuế, tăng chi phí quản lý và tuân thủ thuế. Việc giảm thuế suất phải đi đôi với cơ sở thuế được mở rộng hơn nhằm có thể tăng doanh thu thuế ròng. - Chi phí của những hành vi phản ứng đối với thuế, chính sách thuế không làm ảnh hưởng đến thu nhập, hành vi đi làm và tiết kiệm của người nộp thuế. Chính sách thuế vừa thu được thuế vừa khuyến khích người dân đi làm để tăng thêm thu nhập.2 Khung phân tích: 10 Richard Goode (1984), “Hệ thống thuế: Phần thảo luận tổng quát”, tr 3-4, đã trích dẫn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Tính khả thi về mặt quản lý: Độ Tính ổn Tiềm Nỗ Số nổi định năng lực thu thuế của thuế thuế thuế thuế Tính công bằng: Khung phân tích Tính công Xác Mục tiêu Đối tượng bằng chiều định chính sách chịu thuế ngang và thuế so tính và thu công bằng suất khả thi về nhập chịu theo chiều mặt quản thuế dọc lý Hiệu quả kinh tế: Thay đổi Chi phí tuân Cản trở Số hành vi và thủ và biến việc đi thu ảnh hưởng dạng do làm tiết thuế thu nhập việc tránh kiệm và so đối của người và trốn thuế đầu tư tượng nộp thuế gây ra quản lý 1.3 Đối tượng nộp thuế TNC: Theo điểm 1, mục I, Thông tư số 81/2004/TT-BTC ngày 13/8/2004 của Bộ Tài chính về thuế thu nhập đối với người có TNC quy định đối tượng nộp thuế thu nhập đối với người có TNC bao gồm: “- Công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác, lao động ở nước ngoài có thu nhập. - Cá nhân là người không mang quốc tịch Việt Nam nhưng định cư không thời hạn tại Việt Nam có thu nhập. - Người nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam.” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có TNC được ban hành vào năm 1991 với mục tiêu quan trọng nhất là công bằng, nhằm điều tiết thu nhập đối với những người có TNC, nên đối tượng nộp thuế còn hẹp.4 Thu nhập chịu thuế TNC: Theo điểm 1, mục I, Thông tư số 81/2004/TT-BTC quy định thu nhập chịu thuế TNC bao gồm: “- Các khoản thu nhập dưới các hình thức tiền lương, tiền công, tiền thù lao, bao gồm cả tiền lương làm thêm giờ, lương ca 3, lương tháng thứ 13 (nếu có); tiền phụ cấp; tiền trợ cấp thay lương nhận từ quỹ bảo hiểm xã hội; tiền ăn trưa, ăn giữa ca (nếu nhận bằng tiền); - Tiền thưởng tháng, quý, năm, thưởng đột xuất nhân dịp ngày lễ, tết, ngày thành lập ngành, thưởng từ các nguồn, dưới các hình thức: tiền, hiện vật; - Thu nhập do tham gia dự án, hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, hội đồng quản lý, hội đồng doanh nghiệp; - Tiền bản quyền sử dụng sáng chế, nhãn hiệu, tác phẩm; thu nhập về tiền nhuận bút; - Các khoản thu nhập của các cá nhân không thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp; - Các khoản thu nhập không tính trong tiền lương, tiền công được chi trả hộ như tiền nhà, điện, nước; - Các khoản thu nhập khác mà cá nhân được hưởng từ cơ quan chi trả thu nhập.5 Biểu thuế suất thuế TNC: - Biểu thuế lũy tiến từng phần áp dụng đối với công dân Việt Nam, cá nhân khác định cư tại Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam, công dân Việt Nam lao động, công tác ở nước ngoài: + Đối với công dân Việt Nam và cá nhân khác định cư tại Việt Nam: Đơn vị: 1000đ Bậc Thu nhập bình quân tháng/người Thuế suất (%) 1 Đến 5.000 40 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 + Đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và công dân Việt Nam lao động, công tác ở nước ngoài: Đơn vị: 1000đ Thu nhập bình quân Bậc Thuế suất (%) tháng/người 1 Đến 8.000 40 Nguồn: Theo điểm 3, mục I, Thông tư số 81/2004/TT-BTC, đã trích dẫn. - Đối với người nước ngoài không cư trú tại Việt nam: áp dụng thuế suất 25% tính trên tổng thu nhập chịu thuế.
- Quy định về điều kiện cư trú: Người nước ngoài được coi là cư trú tại Việt Nam nếu ở tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính cho 12 tháng liên tục kể từ khi đến Việt Nam. Biểu thuế suất đã phân biệt đối xử giữa người Việt Nam và người nước ngoài, không tính đến gia cảnh của NNT, điều này đã tạo ra sự không công bằng giữa những NNT. Biểu thuế suất có 4 mức thuế suất, mức thuế suất thấp nhất là 10% và mức thuế suất cao nhất là 40%, khoảng cách giữa các bậc thuế suất là 10%.6 Công tác quản lý thu thuế TNC ở Long An: 1.1 Quản lý thu thuế: - Do nguồn thu thuế TNC chiếm tỷ trọng thấp so với các nguồn thu khác ở địa phương nên việc quản lý thu thuế TNC từ tiền lương tiền công trong giai đoạn này ít được Cục thuế quan tâm. Các tổ chức chi trả chưa được cấp mã số thuế (MST), trong khi cá nhân chịu thuế vẫn chưa được cấp MST rộng rãi vì không có quy định ràng buộc để người nộp thuế đăng ký cấp MST, đến năm 2008 Cục thuế tỉnh Long An đã cấp được 2.612 MST, chỉ bằng 32% số cá nhân chịu thuế (Phụ lục 6); ngoài ra, công tác tuyên truyền hỗ trợ chưa được quan tâm nên số lượng DN không thực hiện kê khai nộp thuế hàng tháng mà chỉ thực hiện quyết toán năm chiếm 16% vào năm 2008, tỷ lệ các DN quyết toán thiếu chiếm tỷ trọng rất cao trên 75% (Phụ lục 7), chưa hiện đại hóa trong công tác quản lý thu thuế.
Qua kết quả quyết toán thuế cho thấy, Cục thuế tỉnh Long An chưa quản lý chặt chẽ việc kê khai nộp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 thuế của DN, không đôn đốc các DN kê khai nộp thuế hàng tháng kịp thời và đầy đủ vào ngân sách nhà nước, đã để cho DN chiếm dụng tiền ngân sách nhà nước.