phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương: Chƣơng 1: Số liệu thống kê hình ảnh động vật trong kho tàng sử thi Bana Chƣơng 2: Hình ảnh động vật trong kho tàng sử thi Bana Chƣơng 3: Mối quan hệ giữa hình ảnh động vật trong sử thi với đời sống, văn hóa, tâm linh ngƣời Bana 9 CHƢƠNG 1 SỐ LIỆU THỐNG KÊ HÌNH ẢNH ĐỘNG VẬT TRONG KHO TÀNG SỬ THI BANA I. MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC BANA VÀ SỬ THI BANA 1. Dân tộc Bana Bana là một trong những dân tộc bản địa sinh sống lâu đời trên cao nguyên trung phần miền Tây của Tổ quốc. Bana là dân tộc lớn nhất nói tiếng Môn - Khơ me ở Tây Nguyên, số dân hiện nay ước tỉnh khoảng trên 20 vạn người.
Địa bàn cư trú của người Bana trải rộng từ Kon Tum, Gia Lai xuống một số huyện miền núi các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa. Theo điều tra của các nhà dân tộc học thì người Bana hiện nay gồm có các nhóm sau: Nhóm Bana Kon Tum ở xung quanh thị xã Kon Tum, nhóm Tơ Lô ở An Khê, Mang Yang (tỉnh Gia Lai), nhóm Rơngao ở quanh thị xã Kon Tum, Đắc Tô (tỉnh Kon Tum), nhóm Giơlơng ở huyện Kon Plông, thị xã Kon Tum (tỉnh Kon Tum)… Tuy được chia ra nhiều nhóm địa phương khác nhau nhưng người Bana vẫn có một truyền thống văn hoá chung. Truyền thống văn hoá ấy được thể hiện khá rõ nét trong phương thức sản xuất, phong tục tập quán, lễ hội, văn học nghệ thuật, tín ngưỡng tôn giáo… Hình thái tổ chức xã hội của người Bana là plei (làng), làng là đơn vị cư trú của các gia đình phụ hệ nhưng người phụ nữ vẫn đóng vai trò quan trọng trong mọi việc của gia đình. Mỗi làng có từ 20 đến 70 hộ gia đình.
Giữa làng có một ngôi 10 nhà rông – nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Để điều chỉnh công việc trong làng là hội đồng già làng, đứng đầu là chủ làng. Già làng là người thay mặt cho cả làng quyết định các công việc chung như việc làm nhà rông, dời chuyển làng, tổ chức lễ hội, sản xuất, chiến đấu đến việc xử phạt những cá nhân hay gia đình vi phạm những điều trái với luật tục. Sử thi Bana Người Tây Nguyên nói chung, người Bana nói riêng đều quan niệm “vạn vật hữu linh”.
Tất cả các sự vật hiện tượng trong tự nhiên và chính bản thân con người đều có linh hồn. Trong thế giới có một lực lượng vô hình ảnh hưởng quyết định tới cuộc sống của con người đó là Yang. Các Yang thường được đồng bào nhắc tới nhiều là: Yang Dak (Thần nước), Yang Công (Thần núi), Yang Nam (Thần nhà), Yang Rông (Thần nhà rông), Yang Chiêng (Thần cồng chiêng), Yang T’rưng…đặc biệt Bok Keidei là vị thần tối cao. Ở đây, mối quan hệ giữa người với các Yang rất bình đẳng, tác động qua lại, gắn bó với nhau một cách bền vững tạo nên vẻ đẹp hồn nhiên của cuộc sống.
Người Bana có một đời sống tinh thần, tín ngưỡng phong phú đặc sắc. Trí thông minh và óc tưởng tượng phong phú của các nghệ nhân Bana từ bao đời nay đã để lại cho chúng ta một di sản văn hoá quý giá. Trong đó phải kể đến một hình thức văn hoá dân gian hát kể mà đồng bào gọi là hơ mon. Chính nhờ phương thức lưu truyền này mà hàng chục tác phẩm sử thi tồn tại sống động trong đời sống của tộc người này cho đến nay.
Giống như những sử thi khác, sử thi Bana xứng đáng là “bách khoa thư” của dân tộc Bana. Trong môi trường văn học dân gian, hơ mon là một tác phẩm văn học tổng hợp, nó thu hút hầu hết các giá trị văn hóa vốn có của dân tộc: thơ ca, thần thoại, truyền thuyết, âm nhạc, diễn xướng, để thành một tác phẩm tự sự bằng văn vần hay những làn điệu dài hơi lấy các nhân vật anh 11 hùng làm trung tâm để biểu đạt tư tưởng, ý nguyện, quan niệm sống của cộng đồng. Hơ mon là một sinh hoạt văn hóa độc đáo được kể qua những ngữ điệu trầm bổng lôi cuốn của những nghệ nhân Bana. Hơ mon là những bài ca dài có tính chất tổng hợp, trong đó chuyển tải một khối lượng lớn những thông tin về đời sống, tư tưởng tình cảm của một cộng đồng người trong một thời gian dài.
Hơ mon của người Bana có dung lượng rất lớn, số lượng tác phẩm lên tới con số hàng trăm. So với các bộ sử thi lớn của thế giới như sử thi Iliat, ¤®ixª, Ramayana thì sử thi Bana có thể xếp vào hàng đầu về độ dài. Tìm hiểu sử thi Bana cũng đồng nghĩa với việc nghiên cứu đời sống văn hoá, phong tục tập quán, cách thức sinh hoạt, cách ăn mặc…của tộc người Bana trên dải đất Tây Nguyên. Dường như thế giới của tự nhiên có con vật gì thì sử thi đều phản ánh bằng cách miêu tả hay gọi tên loài vật ấy.
Thậm chí, không thoả mãn với tạo hoá, lớp lớp nghệ nhân Bana còn tưởng tượng ra nhiều loài vật nữa, hết sức đa dạng và phong phú. Những hình ảnh đó tạo điều kiện cho các tác giả dân gian dễ có sự liên hệ giữa hiện thực cuộc sống với đời sống tinh thần của con người. Thế giới động vật trong sử thi đã phản ánh được khả năng quan sát và khám phá thế giới của con người. Thế giới động vật không chỉ là một thực thể bên ngoài của tự nhiên mà còn thâm nhập rất sâu vào đời sống tinh thần của con người.
SỐ LIỆU THỐNG KÊ TÊN HÌNH ẢNH ĐỘNG VẬT XUẤT HIỆN TRONG SỬ THI BANA 2. Bảng số liệu thống kê Để tiện cho việc tra cứu, tác giả thống kê tên hình ảnh động vật theo 5 bảng dữ liệu, bao gồm Tên hình ảnh động vật, Phân nhóm động vật theo tần số xuất hiện, Phân nhóm động vật theo góc độ là vật thần và 12 không phải là vật thần, Tên hình ảnh động vật không có thực, Hình ảnh các động vật xuất hiện nhiều trong sử thi Bana. Bảng 1: Tra cứu về tên hình ảnh động vật xuất hiện trong sử thi của dân tộc Bana (khảo sát qua 5 văn bản, theo thứ tự A,B,C… ). Bảng tra cứu gồm những thông tin.
Số thứ tự 2. Tên hình ảnh động vật 3. Tần số xuất hiện 4. Trong các văn bản (5 văn bản sử thi được khảo sát) lần lượt được đánh thứ tự: B1- Giông, Giơ mồ côi từ nhỏ B2- Giông trong Yuăn B3- Chàng Kơ Tam Gring Mah B4- Giông đánh quỷ Bung Lung B5- Giông, Giơ đi săn chém cọp của Dăm dơ dang Bảng 1: Tên hình ảnh động vật xuất hiện trong sử thi Bana TẦN SỐ XUẤT TÊN HÌNH HIỆN/5 VĂN TRONG CÁC VĂN BẢN STT ẢNH ĐỘNG BẢN KHẢO VẬT SÁT 1 Beo 1 B1-1 2 Bò 116 B1-27; B2 -10; B3-31; B4-21; B5-27 3 Bọ chét 2 B4–2 4 Bò tót 11 B1–1; B2-10 5 Bươm bướm 23 B2–20; B5-3 6 Cá 249 B1-56; B2-110; B3-55; B4-14; B5–14 7 Cá sấu 4 B1- 3; B3–1 8 Chim 96 B1-23; B2-18; B3-33; B4-16; B5–6 9 Chó 89 B1– 44; B3-1; B5-44 10 Chó sói 1 B1-1 11 Chuột 24 B1-3 ; B2-10; B3-1; B4-5; B5–5 12 Cò 3 B4-1; B5–2 13 Cóc 1 B4–1 13 14 Con ăn mày 1 B3–1 15 Cọp 112 B1-1; B2-1; B5-110 16 Công 2 B1–2 17 Cua 27 B1-6; B3-11; B4-8; B5-2 18 Dê 16 B2- 2; B3-4 19 Diều hâu 6 B1-2; B3–4 20 Đom đóm 4 B1-1; B4-3 21 Đỉa 1 B4-1 22 Ếch 25 B1–17; B4-4; B5-4 23 Gà 146 B1-46; B2-32; B3-28; B4-18; B5–22 24 Gấu 2 B1– 2 25 Gián 1 B3–1 26 Hến 2 B4–2 27 Hổ 14 B1–12; B3-1; B4-1 28 Hươu 4 B1-1; B3-2; B5-1 29 Khỉ 7 B1-4; B4–3 30 Kì đà 4 B1-1; B2-1; B4-2 31 Kiến 11 B1-3; B3-5; B5-3 32 Lợn 120 B1-52; B2-37; B3-12; B4-9; B5–10 33 Lươn 1 B1–1 34 Nai 11 B1-3; B3-4; B4-1; B5-3 35 Ngựa 17 B2–11; B4-6 36 Nhái 8 B1-6; B4–2 37 Nhện 1 B3–1 38 Nhím 1 B2–1 39 Nòng nọc 1 B2-1 40 Mang 22 B1–21; B4-1 41 Mèo 36 B5–36 42 Mối 7 B1-2; B3-3; B4-1; B5-1 43 Muỗi 3 B3-1; B4–2 44 Ong 13 B2-4; B3-7; B4-2 45 Ếch 9 B1-1; B3-1; B4-7 46 Quạ 5 B3-2; B4-2; B5-1 47 Rái cá 12 B2-12 48 Rắn 31 B1-3; B3–28 49 Rồng 1 B1–1 50 Rúi 1 B2–1 51 Ruồi 4 B2-3; B4–1 52 Sâu 7 B2-5; B5–2 53 Sò 3 B1-1; B4–2 54 Sóc 6 B1-2; B4-1; B5-3 55 Sư tử 40 B1– 40 56 Thằn lằn (rắn 6 B3-1; B4–5 mối) 57 Thuồng luồng 4 B1–4 14 58 Tôm 11 B1-6; B3-2; B4-3 59 Trâu 127 B1-14; B2-40; B3-30; B4-17; B5–26 60 Trăn 13 B1-1; B2-12 61 Trĩ 1 B1–1 62 Voi 16 B1-2; B2-11; B3-2; B5–1 63 Vượn 5 B1-4; B4–1 Như vậy, khảo sát trong 5 văn bản sử thi Bana: Giông, Giơ mồ côi từ nhỏ, Giông trong Yuăn, Chàng Kơ Tam Gring Mah, Giông đánh quỷ Bung Lung, Giông, Giơ đi săn chém cọp của Dăm dơ dang có tổng cộng 63 hình ảnh động vật, xuất hiện 1548 lần.
Trong đó, văn bản B1 - Giông, Giơ mồ côi từ nhỏ có số lượng cũng như tần số xuất hiện hình ảnh các loài động vật nhiều nhất. Bảng 2: Phân nhóm động vật theo tần số xuất hiện từ cao xuống thấp. Trên cơ sở bảng tra cứu dữ liệu đã thiết lập, tác giả đi vào phân nhóm các hình ảnh theo tần số xuất hiện (tính từ trên xuống dưới). Cụ thể chia ra làm ba khu vực tần số xuất hiện: cao, trung bình, thấp Bảng 2 gồm những thông tin: 1.
Loại tần số 2. Số thứ tự 3. Loài động vật 4.