Chương 1. Một số vấn đề lí luận chung về văn hóa ứng xử và truyện cổ tích sinh hoạt người Việt. Nội dung của chương này là những lý thuyết tổng quan về văn hóa ứng xử truyền thống của người Việt, những lý thuyết chung về truyện cổ tích sinh hoạt người Việt với những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật, mối quan hệ của văn hóa và văn học trong sự tương quan tác động với nhau và tình hình tư liệu truyện cổ tích sinh hoạt người Việt được chúng tôi sưu tầm, khảo sát và tìm hiểu trong phạm vi đề tài của luận văn. Những biểu hiện của văn hóa ứng xử trong truyện cổ tích sinh hoạt của người Việt.
Nội dung của chương này nhằm trình bày các biểu hiện của văn hóa ứng xử trong các mối quan hệ của con người ở truyện cổ tích sinh hoạt người Việt: với môi trường xã hội, truyện cổ tích sinh hoạt thể hiện các giá trị ứng xử qua 12 mối quan hệ trong gia đình (vợ chồng, cha mẹ với con cái, anh em, họ hàng), mối quan hệ xã hội (bạn bè, tầng lớp giàu nghèo, vua quan với dân, những người không quen biết với nhau), trong quan hệ với giá trị cá nhân (hạnh phúc, đạo đức, trí tuệ, thói hư tật xấu). Với môi trường tự nhiên, truyện cổ tích sinh hoạt biểu hiện mối quan hệ hòa hợp, tận dụng thiên nhiên và quan hệ ứng phó với thiên nhiên. Những giá trị của văn hóa ứng xử trong truyện cổ tích sinh hoạt của người Việt. Trong chương này, chúng tôi trình bày những giá trị của văn hóa ứng xử trong truyện cổ tích sinh hoạt qua sự phản ánh những đặc trưng trong đời sống của người Việt về cả vật chất lẫn tinh thần.
Đó là sự phản ánh không gian sinh hoạt cộng đồng, thế giới tình thương và những triết lý dân gian của người Việt. Qua đó nhận ra được giá trị nhân văn và tính giáo dục của truyện cổ tích sinh hoạt người Việt. Ngoài ra, luận văn còn có phần phụ lục thống kê và tổng hợp tất cả 197 truyện cổ tích sinh hoạt người Việt mà chúng tôi tiếp cận, khảo sát trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH SINH HOẠT NGƯỜI VIỆT 1.
Khái quát về văn hoá ứng xử của người Việt 1. Khái niệm văn hóa ứng xử * Khái niệm văn hóa UNESCO từng thừa nhận “văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội” (Phan Ngọc, 2018). Từ khi hình thành các cộng đồng loài người, văn hóa là yếu tố cốt lõi để tạo dựng một cơ cấu tổ chức xã hội hoàn chỉnh. Văn hóa được thể hiện qua từng phương diện trong đời sống, lao động, sinh hoạt, giải trí của con người như “văn hóa ẩm thực”, “văn hóa mặc”, “văn hóa ứng xử ….
Có thể nói, văn hóa là “hạt nhân” để xây dựng xã hội loài người, là phương tiện để phân tách các cộng đồng dân tộc với nhau. Thiếu đi văn hóa, con người không khác gì những cỗ máy được lập trình cứng nhắc, khiếm khuyết những màu sắc cá biệt và độc đáo. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “văn hóa”. Mỗi định nghĩa là một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau của các nhà nghiên cứu về văn hóa.
Trong Một cách tiếp cận văn hóa, Phan Ngọc dẫn ra quan điểm của các nhà nghiên cứu phương Tây khi tiếp cận văn hóa từ mặt ngôn ngữ. Từ “văn hóa” theo nghĩa thuật ngữ của nó là bắt nguồn từ châu Âu để dịch từ “culture” của Anh và Pháp, “kultur” của Đức. Trong tiếng Latinh, từ này có nguồn gốc từ các dạng của động từ “colere” là “colo”, “colui”, “cultus” được hiểu theo hai nghĩa: “cultus agri” là “trồng trọt ngoài đồng” và “cultus animi” nghĩa là “sự giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn con người” (Phan Ngọc, 2000). Mở rộng nghĩa bóng của từ “văn hóa”, nhà văn hóa học người Pháp Abraham Moles cho rằng: “Văn hóa – đó là chiều cạnh trí tuệ của môi trường 14 nhân tạo do con người xây dựng nên trong tiến trình đời sống của mình” (Phạm Xuân Nam, 2007).
Khi nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội, truyền thống dựa trên quan điểm về tính ổn định của văn hóa, Edward Sapir, nhà nhân loại học, ngôn ngữ học người Mỹ định nghĩa: “Văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống” (Wikipedia, 2019). Ở phương Đông, trong từ vựng Hán cổ, chữ “văn” có nghĩa là cái đẹp do màu sắc tạo nên. Từ nghĩa này, “văn” còn được hiểu theo nghĩa rộng đó là … là hình thức đẹp đẽ, biểu hiện trước hết trong lễ, nhạc, cách cai trị, đặc biệt trong ngôn ngữ, cư xử lịch sự. Nó biểu hiện thành một hệ thống quy tắc ứng xử được xem là đẹp đẽ.
“Văn” do đó, trở thành một yếu tố then chốt của chính trị và có lý luận thu hút những người dị tộc theo người Hán bằng chính cái “văn” của nó… Từ “văn hóa” đã có trong sách đời Hán để chỉ “văn trị” tức là cách cai trị mang hình thức đẹp đẽ kết hợp với giáo dục (văn trị giáo hóa) (Phan Ngọc, 2000). Kể từ khi văn hóa trở thành ngành nghiên cứu khoa học, có rất nhiều những khái niệm về văn hóa được các nhà nghiên cứu công bố. Trong Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học, Nguyễn Bá Thành đã dẫn ra các số liệu về số lượng khái niệm văn hóa được đưa ra trên thế giới Năm 1967, nhà văn hóa học người Pháp Abraham Moles lại cho biết có đến 250 định nghĩa.Kutyrev thì vào năm 1990 có tới trên 300 định nghĩa. Theo Phan Ngọc thì: “Một nhà dân tộc học Mỹ đã dẫn ngót 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa”… Riêng ở Việt Nam cho đến nay đã có dăm chục định nghĩa văn hóa của các nhà chính trị, nhà tư tưởng và nhà văn hóa.
Sự 15 phong phú và đa dạng của các sản phẩm văn hóa, hiện tượng văn hóa cùng với sự khác nhau trong nhận thức đối tượng đã làm nảy sinh nhiều định nghĩa văn hóa khác nhau” (Nguyễn Bá Thành, 2018). Nguyễn Bá Thành dẫn nhận định của UNESCO trong quyển Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học rằng đến tháng 11 năm 2001, khi công bố Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa, tổ chức UNESCO đã khẳng định: Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình (Nguyễn Bá Thành, 2018). Định nghĩa về “văn hóa” của UNESCO đã có ảnh hưởng lớn đến các nhà nghiên cứu văn hóa học của Việt Nam. Các nhà nghiên cứu văn hóa học ở Việt Nam cũng đã đưa ra quan điểm cá nhân về văn hóa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở, và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” (Nguyễn Ngọc Quyến, 2004). Trong luận văn Văn hóa ứng xử người Việt trong truyện thơ Nôm, Triệu Thùy Dương đã dẫn ra định nghĩa của Trần Quốc Vượng về văn hóa: Văn hóa … là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, bao hàm cả kỹ thuật, kinh tế… để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một thái độ tổng quát của con người đối với vũ trụ, thiên nhiên và xã hội, là cái vai trò của con người trong vũ trụ đó, với một hệ thống chuẩn mực, những giá 16 trị, những biểu tượng, những quan niệm… tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người (Triệu Thùy Dương, 2007). Phan Ngọc đưa ra định nghĩa: Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng.
Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người khác (Phan Ngọc, 2018). Nguyễn Thị Bích Hà trong Nghiên cứu văn học dân gian từ mã văn hóa dân gian viết: “Văn hóa là phức thể các giá trị vật chất, tinh thần do con người tác động đến tự nhiên, xã hội và bản thân trong quá trình lịch sử dài lâu mà tạo nên. Nó tích tụ và thể hiện diện mạo, bản sắc riêng của cộng đồng” (Nguyễn Thị Bích Hà, 2018). Văn hóa là hiện tượng hiện diện ở tất cả các lĩnh vực, trong mọi hoạt động đời sống của con người.
Nó bao gồm mọi sản phẩm từ vật chất đến tinh thần của con người. Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” (Trần Ngọc Thêm, 1999). Văn hóa bao gồm những đặc trưng cơ bản nhằm xác định rõ bản chất của nó. Trần Ngọc Thêm đã thống kê được bốn đặc trưng cơ bản của văn hóa như sau: Tính hệ thống: Đặc trưng này của văn hóa giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa; phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của nó.
Nhờ có tính 17 hệ thống mà văn hóa thực hiện được chức năng tổ chức xã hội. Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Văn hóa chính là nền tảng của xã hội (Trần Ngọc Thêm, 1999). Tính giá trị: Tính giá trị là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người.