Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ. VÀ KHÁI QUÁT VỀ QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHÓ HÀ NỘI 1. Lý luận chung về văn hóa ứng xử 1.1 Ứng xử “Theo từ điển Tiếng Việt (2000) của Viện Ngôn ngữ học thì nghĩa của từ “ứng” mang hai nội dung chính sau: Thứ nhất là đáp lại, lên tiếng đáp lại lời kêu gọi, thứ hai là có mối quan hệ phù hợp tương đối với nhau. Còn “xử” có nghĩa là hành động theo cách nào đó, thể hiện thái độ đối với người khác trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định.
Xử thế nào với nhau cho phải, bị dồn vào tình thế khó xử. Hay xử sự: giải quyết như thế nào đó những việc quan hệ giữa mình với người khác. Biết cách xử sự; cách xử sự có tình, có lý. Xét từ bình diện sinh học, các nhà khoa học cho rằng ứng xử có nghĩa là toàn thể những phản ứng thích nghỉ có thể quan sát khách quan mà một cơ chế, một hệ thống thần kinh thực hiện đề đáp trả lại những kích thích.
Điều đáng chú ý là những phản ứng ấy, những ứng xử, xử lý để đáp ứng được diễn ra theo cách tương đối ổn định [19, t.123] Ứng xử trong xã hội học dùng đê chỉ “cách hành động (và nói) như thế nào đó của một vai trò xã hội này đối diện với một vai trò khác (ví dụ một cặp vai trò như: vợ/ chồng, cha/ con, cấp trên/ cấp dưới.), và đó là những hành động hoặc gọi là phản ứng theo một cách tương đối. Ứng xử không chỉ giới hạn giữa các vai trò xã hội với nhau mà là ứng xử với mình, ứng xử với đồ vật, với tự nhiên “Từ. góc độ tâm lý học, các nhà nghiên cứu tâm lý lại tìm hiểu, khai thác khái niệm ứng xử ở khía cạnh những quan hệ giao tiếp. Họ cho rằng: 14 Ứng xử là sự phản ứng của con người đối với tác động của người khác trong một tình huống cụ thể nhất định.
Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng, tuỳ thuộc vào trí thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả giao tiếp cao nhất [2, tr. 1,12] “Trên cơ sở đó, ứng xử được hiểu là cách ứng xử nhằm ứng phó với một hoặc nhiều đối tượng nào đó trong giao tiếp Từ đó cho thấy ứng xử được biểu thị ở con người và các nhóm ngườitrong mọi hoạt động sinh tồn. Ứng xử ở người bao gồm ba yếu tố tạo. thành một tổng thể không thể tách rời: - Tính hữu thức thực tế, định hướng trong hành động: chủ thê cảm thấy, nhận thấy, hiểu mình đang đứng trước tình huống nào và tô chức hoạt động của mình.
~ Những biểu thibên ngoài có thể quan sát được (Những phản ứng sinh lý, cơ thể, những thực hành vật chất). ~Mối liên hệ với môi trường sống bao gồm tắt thảy mọi môi trường hữu thể và thế giới xung quanh gắn liên với tình huống. Nhu vậy ứng xử của con người (cá nhân, nhóm, hay cộng đồng) phản ánh các mối liên hệ cơ bản sau ~Nói đến ứng xử là nói đến cách xử trí trong quan hệ giữa người với người hoặc giữa cá nhân với cộng đồng trước những sự kiện hoặc sự việc cu thé. ~ Ứng xử cũng là phương diện cấu thành của văn hoá, là biểu hiện tổng hợp của văn hoá.
Mỗi một xã hội là một hệ thống ứng xử bao gồm nhiều loại ứng xử được phân biệt bởi tính khinh, trọng của mỗi loại trong đời sống xã hội cũng như đời 15 sống cá nhân. Trong đời sống hàng ngày, trên cơ sở các quan hệ vật cÌ ất và trao đôi vật chất, các cá nhân và các nhóm phải ứng xử với nhau và với tự nhiên theo những qui tắc nào đó để tồn tại và phát triển Theo tác giả Đoàn Văn Chúc (1997), để xác định một cách ứng xử nào đó có là ứng xử văn hoá hay không người ta thường xét bốn yếu tố sau đây: ~ Ứng xử được thường xuyên lặp đi lặp lại, tức là tính thời gian của ứng xử: - Ứng xử được lặp lại tương đối theo cùng một cách bởi nhiều người, tức là tính không gian của ứng xử; ~_ Ứng xử ấy có tác dụng kim chỉ nam mẫu mực hay qui tắc cho các. thành viên của một nhóm hay một xã hội; ~_ Ứng xử ấy chứa đựng một ý nghĩa xã hội nào đấy, tức là nó biểu thị kiến thức tư tưởng hoặc tình cảm mà chủ thể đã đạt được, nói cách khác nó là cái mang vác một giá trị (kinh tế, chính trị, luân lý hay. thắm mỹ) [3, tr66] Tóm lại, ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác trong những tình huống xác định.
Văn hóa ứng xi Trong công trình “Cơ sở văn hóa Liệt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm không trình bày một định nghĩa về văn hóa ứng xử, nhưng đã xác định những nội hàm của khái niệm này. Tác giả cho rằng, các cộng đồng chủ thể văn hóa tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường: môi trường tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu.) và môi trường xã hội (các dân tộc, quốc gia láng giềng. Với mỗi loại môi trường đều có cách thức xử thế phù hợp là: tận dụng môi trường (tác động. tích cực) và ứng phó với môi trường (tác động tiêu cực) [25, tr.
Đối với môi trường tự nhiên, việc ăn uống là tận dụng, còn mặc, ở, đi lại là ứng phó. Đối với môi trường xã hội - tác giả xác định: "bằng các quá trình giao lưu và 16 tiếp biến văn hóa, mỗi dân tộc đều cố gắng tận dụng những thành tựu của các dân tộc lân bang dé làm giàu thêm cho nền văn hóa của mình; đồng thời lại phải Jo ứng phó với họ trên các mặt trận quân sự, ngoại giao.17] Theo tác giả, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội có hai hàm nghĩa là: tận dụng và ứng phó. Có thể coi đó là thái độ ứng xử.Cách thức thể hiện thái độ này là giao lưu và tiếp biến văn hóa. Khái niệm *ăn hóa ứng xử” được tập thể tác giả công trình “Van hoa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên” xác định “gdm cách thức quan hệ, thái độ và hành động của con người đối với môi trường thiên nhiên, đối với xã hội và đối với người khác”[1, tr.
Như vậy, văn hóa ứng xử theo. các tác giả gồm 3 chiều quan hệ: với thiên nhiên, xã hội và bản thân. Văn hóa ứng xử gắn liền với các thước đo mà xã hội dùng để ứng xử. Đó là các chuẩn mực xã hội.
Cụ thể văn hóa ứng xử thông thường được chỉ phối bởi bốn hệ chuẩn mực cơ bản của nhân cách: hệ chuẩn mực trong lao động; hệ chuẩn mực trong. giao tiếp; hệ chuẩn mực gia đình; các chuẩn mực phát triển nhân cách. Trong quá trình ứng xử, con người phải lựa chọn giữa cái thiện và cái ác, cái đúng và cái sai, cái đẹp và cái xấu, cái hợp lý va cái phi lý. trong một công đồng nhất định.
Sự lựa chọn này bị chỉ phối cũng bởi bốn hệ chuẩn mực là: hệ chuẩn mực đạo đức, hệ chuẩn mực luật pháp, hệ chuẩn mực thẩm mỹ và trí tuệ, hệ chuẩn mực về niềm tin. Đây là một công trình tập trung làm rõ văn hóa ứng xử với môi trường thiên nhiên, cho nên hai chiều quan hệ với xã hội và với bản thân con người không phải là đối tượng nghiên cứu Ngoài hai công trình trên đây trực tiếp bàn về văn hóa ứng xử còn có thể kế đến những công trình khác dưới dạng các chuyên đề khoa học, bài tạp chí, bài báo đề cập đến một phương diện nhất định của văn hóa ứng xử. Chẳng hạn 17 trong chuyên luận “Tình người Giao tiếp và văn hóa giao tiết ˆ thuộc công trình “Van héa va giáo dục.Giáo dục và văn hóa”, tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm, giao tiếp chính là phương tiện thể hiện của tình người. Văn hóa giao tiếp của con người có liên quan chặt chẽ với các kỹ năng giao tiếp đặc trưng, được hình thành ở họ, ví dụ kỹ năng “chinh sửa ” các ấn tượng ban đầu về người khác khi mới làm quen với họ; tôn trọng các quan điểm, sở thích, thị hiếu, thói quen.
của người khác. 'Có thê thấy từ nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa ứng xử, tác giả đã cố gắng tổng hợp và đưa ra một khái niệm công cụ phục vụ cho nghiên cứu của mình. Vậy “văn hóa ứng xử" có thể được hiểu là: thai d6, cách thức quan hệ, hành động và cả kỹ năng lựa chọn của con người nhằm tận dụng, ứng phó, thể hiện tình người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Thái độ, cách thức quan hệ, hành động và cả kỹ năng lựa chọn của con người đều bị chỉ phối bởi các giá trị được biểu hiện dưới dạng chuẩn mực cơ bản của xã hội.
Biễu hiện của văn hóa ứng xứ: 1. Diện mạo Hầu hết các mối quan hệ xã hội đều liên quan đến việc giao tiếp và quan hệ cá nhân, đặc biệt hình thức, diện mạo của chủ thể giao tiếp phản ánh những, tiêu chuẩn của người đó trong mắt người khác. Diện mạo bên ngoài có vai trò quan trọng trong việc tạo nên mối thiện cảm với người khác ngay từ phút đầu giao tiếp.Diện mạo của chủ thể thể hiện ở hình thức bể ngoài, đồng thời thể hiện tính tình, khí chất và tư cách của họ, nó giúp người khác hiểu được anh ta là người như thé nào. Thông, qua dáng vẻ bể ngoài, trang phục, trang điểm của chủ thể, người khác có thể biết được đó là người lịch sự, đàng hoàng, chững chạc, chuyên nghiệp, tự tin hay nhút nhát, vụng về.
18 “Trong ứng xử, giao tiếp, cách ăn mặc, phục sức phải chinh té, ngay ngắn, phù hợp với môi trường xung quanh và phù hợp với hoạt cảnh giao ép.Bên cạnh đó, nó thê hiện sự hài hoà giữa tâm hồn và thê chất của chủ thể giao tiếp, nó tạo cho họ sự tự tin -An thiết trong giao tiếp với người khác và để lại ấn tượng tốt đẹp trong mắt mọi người. Một người ăn mặc cầu thả, tuỳ tiện, không tôn trọng với đối tượng giao tiếp, hoặc ăn mặc không phù hợp với hoạt cảnh giao tiếp thì ngay từ đầu sẽ tạo ra một Ấn tượng xấu, gây mắt thiện cảm trong con mắt của người khác.