Chương 1: Những vấn đề chung về văn hoá tiêu dùng. Chương 2: Tổng quan về tình hình di du lịch Trung Quốc và thực trạng tiêu dùng của khách du lịch Việt Nam trong các tour du lịch Trung Quốc. Chương 3: Những giải pháp xây dựng văn hoá tiêu dùng cho khách du lịch Việt. CHUONG 1 NHUNG VAN bE CHUNG VE VAN HOA TIEU DUNG 1.
Chung quanh khai niệm văn hoá tiêu dùng LLL. Vai nét về khái niệm văn hoá. ‘Vain hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chat va tinh thần của con người. Nghĩa ban đầu của văn hóa trong tiếng Hán là những nét xăm mình qua.
đó người khác nhìn vào để nhận biết và phân biệt mình với người khác, biểu thị sự quy nhập vào thần linh và các lực lượng bí ấn của thiên nhiên, chiếm. lĩnh quyền lực siêu nhiên. Theo bộ Từ Hải (bản năm 1989) thì văn hóz vốn là một cách biểu thị chung của hai khái niệm văn tri và giáo hóa. Theo ngôn ngữ của phương Tây, từ tương ứng với văn hóa của tiếng Viét (culture trong tiéng Anh và tiếng Pháp, kwlwz trong tiếng Đức,.) có nguồn gốc từ các dạng của động từ Latin cofere là colo, colui, cultus với hai nghĩa: giữ gìn, chăm sóc, tạo dựng trong trồng trọt; cầu cúng.
Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh. Các "trung tâm văn hóa" có ở khắp nơi chính là cách hiểu này, Một cách hiểu thông thường khác: văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả. đức tin, trí thức được tiếp nhận. Vì thế chúng ta nói một người nào đó là văn khóa cao, có văn hóa hoặc văn hóa thấp, vô văn hóa.
Trong nhân loại học và xã hội học, khái niệm văn hóa được đề cập đến theo một nghĩa rộng nhất. Văn hóa bao gồm tắt cả mọi thir von là một bộ phận. trong đời sống con người. Văn hóa không chỉ là những gì liên quan đến tinh.
thần mà bao gồm cả vật chất. 'Văn hóa liên kết với sự tiến hóa sinh học của loài người và nó là sản phẩm của người thong minh (homo sapiens). Trong quá trình phát triển, tác động sinh học hay bản năng dẫn dẫn giảm bớt khi loài người đạt được trí thông mình dé định dạng môi trường tự nhiên cho chính mình. Đến lúc này, ban tính con người không còn mang tính bản năng mà là văn hóa.
Khả năng, sáng tạo của con người trong việc định hình thể giới hơn hẳn bắt kỳ loài động vật nào khác và chỉ có con người dựa vào văn hóa hơn là bản năng dé đảm bảo cho sự sống còn của chủng loài mình. Con người có khả năng hình thành văn hóa và với tư cách là thành viên cũ một xã hội, con người tiếp thu văn bó L bảo tồn nó đồng thời truyền đạt nó từ thế hệ này sang thế hệ khác. Việc cùng có chung một văn hóa giúp xác định nhóm người hay xã hội mà các cá thể là thành viên. 'Văn hóa là bao gồm tắt cả những sản phẩm của con người, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn.
ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quân áo, các phương tiện, v. Cá hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa. Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân.
loại hoc Myla Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nỏi tiếng thế giới Van hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu nhu dan ic hoc, nhân loại học (theo cách gọi của Mỹ hoặc đân rộc học hiện đại theo cách gọi của châu Âu) , dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội học,.và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau. Các định nghĩa về văn hóa nhiều và cách tiếp cận khác nhau đến nỗi ngay cả cách. phân loại các định nghĩa về văn hóa cũng có nhiều. Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này tôi chi xin trích dẫn định nghĩa về văn hoá của Tổ chức giáo.
dục, khoa học và văn hoá liên hợp quốc như sau: “Văn hóa nên được để cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay. một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”. “Tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội.
'Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thé hé khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sông và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do. con người tạo ra.
Vấn đề tiêu dùng nói chung và tiêu dùng trong du lich Tiêu dùng là việc sử dụng những của cải vật chất (hàng hóa và dịch vụ) được sáng tạo, sản xuất ra trong quá trình sản xuất để thoả mãn các nhu cầu của xã hội. Tiêu dùng là giai đoạn quan trọng của tái sản xuất. là một động lực của quá trình sản xuất, nó kích thích cho sản xuất phát triển. Theo nghĩa rộng, tiêu dùng được chia ra làm tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng.
Cái trước là một khâu trong quá trình tái sản xuất xã hội, là chỉ tiêu hao và quay vòng tư liệu sản xuất; còn cái sau là chỉ tiêu hao tư liệu sinh hoạt, mục đích là để thoa min nhu cầu sinh hoạt và phát triển của cá nhân. Đối với tiêu dùng sinh hoạt mả nói, nó là hành vi cá nhân, bắt nguồn từ các loại nhu cầu của con người, nhưng tiền đề cơ bản là điều kiện sản xuất, chế độ phân phối và văn hoá tiêu dùng của xã hội. Hơn nữa tiêu dùng cũng không phải không có liên quan với lý luận. Lấy tiêu dùng thức ăn mà nói, “đói thì muốn ăn” là đòi hỏi cơ bản của con người, thế nhưng hàng ngàn năm nay, vấn đề *©ó thể ăn cái gì", * có thể ăn được cái gì" cũng như “ăn như thế nào”, lại quyết định bởi điều kiện cung ứng thức ăn, thể chế phân phối thức ăn và văn.
hoá âm thực bao gồm cả quan niệm giá trị sinh tồn của xã hội. Vì vậy, điều kiện xã hội nỈ định về căn bản đã qui định đối tượng, hình thức và phương. thức thực hiện của tiêu dùng, trên cơ sở đó, mới có sự lựa chọn tiêu dùng cá. nhân bắt nguồn từ nhu cầu của mình, đó chính là bản chất xã hội của tiêu dùng sinh hoạt Người tiêu dùng là một từ nghĩa rộng dùng để chỉ các cá nhân hoặc hộ gia đình dùng sản phẩm hoặc dịch vụ sản xuất trong nền kinh tế.
người tiêu dùng được dùng trong nhiều văn cảnh khác nhau vì thế cách dùng và tầm quan trọng của khái niệm này có thể rất đa dạng. Người tiêu dùng là người có nhu cầu, có khả năng mua sắm các sản phẩm dịch vụ trên thị trường, phục vụ gì cho cuộc sống, người tiêu dùng có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình. 'Hành vi tiêu dùng Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: “Hanh vi tiéu diing chính là sự tác động qua lại giữa các yêu tổ kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của. ho" [3,tr 11] Hãy nói cách khác, hành vi tiêu dùng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được và những hành động mả họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng.
Những yếu tố như ý kiến từ những người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin về giá cả, bao bì, bề ngoài sản phẩm. động đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của khách hàng. ‘Theo Philip Kotler, “Hanh vi tiêu dùng là những hành vi cụ thể của một. cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ”[10,tr.
“Hanh vi tiêu dùng là một tiến trình cho phép một cá nhân hay một nhóm người lựa chọn, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ một sản phẩm dịch vụ, những suy nghĩ đã có, kinh nghiệm hay tích lũy, nhằm thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của họ”[10,.12] “Hành vi tiêu dùng là toàn bộ những hoạt động liên quan trực tiếp tới quá trình tìm kiếm, thu thập, mua sắm, sở hữu, sử dụng, loại bỏ sản phẩm/ dịch vụ. Nó bao gồm cả những quá trình ra quyết định diễn ra trước, trong và sau các hành động đó”[12,t.13] Như vậy qua hai định nghĩa trên, chúng ta có thể xác định được một số đặc điểm của hành vi tiêu dùng là: Hành vi người tiêu dùng là một tiến trình cho phép một cá nhân hay. một nhóm người lựa chọn, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ một sản phẩm/ dịch vụ. Tiến trình này bao gồm những suy nghĩ, cảm nhận, thái độ và những.
hoạt động bao gồm mua sắm, sử dụng, xử lý của con người trong quá trình mua sắm và tiêu dùng [3, tr.12] ‘Hanh vi tiêu dùng có tính năng động và tương tác vì nó chịu tác động. bởi những yếu tố từ môi trường bên ngoài và có sự tác động trở lại đối với môi trường ấy. Trong xã hội Việt Nam nói riêng, hoạt động tiêu dùng tạm thời được. chia làm hai thời kỳ khác nhau lấy dấu mốc ranh giới rõ rệt là Đại Hội Đảng.
toàn quốc lần thứ VI (từ ngày 15-18/12/1986). Trước đây, khi nền kinh tế còn. hoạt động theo cơ chế quan liêu bao cấp thì hoạt động tiêu dùng được vận hành theo chế độ “Tem phiếu” mang tính chất một chiều. Người tiêu dùng không có quyền lựa chọn những sản phẩm mà mình thích mặc dù có khả năng, chỉ trả.
Tắt cả các sản phẩm đều được nhà nước chỉ định phân phối.