Chương 1 LANG XUAN CAU VỚI TRUYỂN THONG HOC HANH, KHOA BANG. GIOL THIEU CHUNG VE LANG XUAN CAU 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, Xuân Cầu ngày nay là một trong ba làng cũ hợp thành xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên. Lang Xuân Cấu giáp canh, giáp cư với làng Đại Tài (cùng thuộc xã "Nghĩa Trụ) về phía Bác, làng Đồng Tỉnh (xã Nghĩa Trụ) vẻ phía Nam.
Phía "Đông giáp song Nghia Tru. Phía Tây là cánh đồng rộng lớn, có rất nhiều gò, cống, quán chứa nhiều huyền tích của xã Long Hưng cùng huyện Van Giang. “Từ trang tâm Thủ đỏ Hà Nội, theo Quốc lộ 5, để đến được Xuân Cấu, có thể đủ bằng các con đường : - Một đường, qua thị trấn Như Quỳnh, đến chợ Đường Cái của xã “Trưng Trác, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên (cách trung tâm Hà Nội 22 km), ế phải, đi khoảng 200 mết nữa, qua cầu l bắc qua sông Nghĩa Trụ là đến thôn Phúc Thọ, một trong ba thôn và là trung tâm của làng Xuân Cầu, cũng là trùng tâm xã Nghĩa Trụ = Mot đường, đến cầu vượt Kiêu Ky, rẽ tái vào đường Kiêu Ky, đi khoảng 5 km, đến ngã ba Như Lân ở đầu thị trấn Văn Giang, rễ trái vào, đường liên xã, di khoảng hơn một km, đến ngã ba giữa làng Như Lân, lại tiếp Về tay trái, đĩ khoảng S km, đến địa phận làng ở thôn Phúc Thọ. - Một đường, đến đầu cầu Chương Dương, theo đường đề Tả Hồng, qua Bất Trăng - Xuân Quan, rẽ vào thị trấn Văn Giang, đi ngược đến p ngã ba Như Lânkể trên, để đi tiếp về Xuân Cau- Nel la Trụ như con đường thứ hai “Xuân Câu nằm kế Quốc lộ 5 - tuyến đường huyết mạch của tam giác kinh tế Hà Nội - Hai Phong - Quảng Ninh.
Từ Xuân Cầu theo dường 5 đến "7 "Phố Nối vào Quốc lộ 39, đi khoảng 35 km là tới Phố Hiến một thời dược Tà “đệ nhất kinh kỳ”. Vị tr gần Thủ đô, gần các trùng tâm chính tị, kính tế, văn hoá của vùng là những thuận lợi lớn cho việc giao thương, tao đổi kinh. tế, văn hóa với cácđịa phương trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của làng "Xuân Cấu xưa và nay. Xuân Cầu có sông Nghĩa Trụ chảy qua.
Sông này theo sách Dai Nam nhất thống chí, cách huyện Gia Lam 22 dặm về phía Đông - Nam, là hợp lưu của hai nguồn nước: Một nguồn do nước từ đồng ruộng các xã Lê Xá, Phú Thị đổ xuống, chiy qua phía Đông Nam huyện Siêu Loại 28 dạm đồ về địa phận xã Xuân Cu, huyện Văn Giang, ~ Một nguồn do nước ruộng các xã Nông Vụ và Cé Bi thuộc huyện Gia Lâm đổ xuống, chảy vẻ phía Nam 22 dậm; đến xã Xuân Cầu thì hợp, Với nguồn n từ Lê Xá, Phú Thị làm một dòng, rồi chia hành ba chỉ lưu, lấn lượt tạo thành các sông : Đạo Khê (chảy xuống huyện Mỹ Hào và chảy ra cửa biển Thái Bình), Vân Đậu (chảy vào sông Hàm Giang rổi đổ ra biển) và chỉ thứ ba ở phía Nam chảy vào địa giới huyện Đông Yên (nay là huyện Khoái Châu làm thành con sông nhỏ Đông Xá hợp với sông Nhị. Vin theo Dai Nam nhất thống chí, sông Nghĩa Trụ còn nhận nước của song Dai Bi là một phân lưu của sông Nhị, từ địa phận làng Bét Trang chây xuống [36, t. 100 II] Như vậy, sông Nghĩa Trụ có một vị thế "đầu nguồn, đầu mới, đấu thủy” nên từ xưa có vai trd quan trọng về giao thông đối với Kinh đô Thăng Long và các làng xã của các trấn : Kinh Bắc (Mứ Bắc) và Hải Dương (Xi ang) và một phần trấn Sơn Nam (Xứ Nam tỉnh Hưng Yên ngày nay). Năm trong vùng chịu ảnh hưởng của sông, làng Xuân Cấu có vị trí đặc biệt, là trùng tâm của "đầu nguồn, đầu mối, đầu thủy”.
is “Trước dãy lòng sông Nghĩa Trụ khá rộng. ngày đêm thuyền bề tấp nập "ngược xuôi. Khí giao thông đường hộ còn hạn chế, đường ắt chưa có t việc thông thương vận chuyển trên sông Nghĩa Tự là chủ yếu, từ Kinh do Thang Long xuống xứ Đông (ra biển), ngược lên xứ Bắc, làm giảm đáng kể sức guời phải gánh vác. Dán dấn, dòng sông bị thu họp, phải thường xuyên nạo ớt cho thông dồng Sẽ Nghĩa Trụ còn các tác dụng điều tiết nước trong vùng, khỉ những trận thủy tai diễn ra gây ngập lụt trên một diện rộng.
Sử cũ từng gÌ vào tháng Bảy năm Nhâm Thìn niên hiệu Thiệu Phong đời Vua Trần Dụ “Tông (tháng 8 năm 1352) vỡ đè Bất - Khối, cả vùng Bắc Ninh, Hải Dương và Hưng Yên ngày, xy bị ngập, thiệt hại rất lớn. Tháng Bảy năm Kỷ Dậu lên hiệu Bảo Thái đời Vua Lê Dụ Tông (tháng 8 năm 1729), xây ratứ thủy tai, nước xông Hồng trần ngập, đường đề nhiều chỗ bị vỡ, tru đình sai Hữu Thị lang bộ Lễ, Tiến sĩ Hồ Phi Tĩch đào sông Nghĩa Trụ "để thủy thế được lưu thông” |8, tr 471 -472] “Thời Gia Long (1802 - 1819), nhà Nguyễn cho xây cổng sông Nghĩa “Tru, một khẩu ở xã Báo Đáp, một khẩu ở hai xã Như Quỳnh và Nghĩa Trai (nay đêu thuộc huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên). “Từ sau hòa bình lập lại, Nhà nước ta đã cải tạo nhiều đoạn của sông "Nghĩa Trụ để dẫn nước, diền hình là đoạn từ xã Kim Lan - Bát Tràng về Long "Biên, là một nhánh của công trình thủy nông Bắc - Hưng - Hã “Tuy có một số thuận lợi, Xuân Cầu vẫn nằm trong vùng chịu nhiều tác động bất lợi của khí hậu và thời tiết, nhất là mưa bão, có năm đến tháng T: (1®) vẫn có bão lớn, điển hình là trận bão ngày 13 tháng Tấm nam Giáp Tuất (nim 1874); trận bio ngày 12, I3 tháng Năm năm Quý Mão (ngày 7 và 8 tháng 6 nam 1903), đã bể gây các trụ và vọng lâu cổng làng Xuân Cấu, đến năm 1908, làng mới sửa li như cũ 9 “Cũng với bão là lũ lụt. Chỉ trong 100 năm của thế kỹ XIX, Xuân Cầu cũng như huyện Văn Giang chịu 32 lần bị lạ, gây vỡ đê nhiều lần, không từ sông Nghĩa Trụ mà còn từ sông Hồng; cùng 5 lần hạn hán, 39 lần mưa bão: lổa.
Đặc biệt, từ năm 171 đến năm 1889, đề Văn Giang vỡ 18 năm liên, được dân gian đúc kết ‘Hung Yen ma ching duge yen, Mười tâm năm liền liên tục vỡ đề. De vỡ, gây thiệt lớn vẻ người, của và mùa màng, làm đối kém, không chỉ cho huyện Văn Giang, mà cho cả một vùng rộng hơn là phủ Khoái Châu. ai ái như phủ Khoái sử cơn)” là vậy 1. Vài nét về sự hình thành, địa lý hành chính và cơ cấu tổ chức làng Xuân Cầu Làng Xuân Cầu vốn tên là Hoa Kiều hay Huê Cầu, Huê Kiểu.
Điều cho phép liên tướng đến nguồn gốc Hoa hay yếu tổ Hoa - Hán của cư dân nơi đây. Có ý kiến cho rằng, đây vốn là một cầu quần do người Hoa lập ra, trong <u trình buôn bán, sau phát triển thành làng. Nhiều bậc cao niên trong làng cho rằng, từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ VIH, nhà Đường đưa dân lưu vong đi khai khẩn những vùng đất hoang để lập đền điền và hương ấp. Xuân Cầu được lập từ thời đó, với tên gọi "Tân Kiểu”, `Ý kiến này được cũng cổ qua một số cứ liệu Làng có Xóm Ba Tàu, thường gọi là *Xóm Lổ” s xóm *Tầu Lổ”, sau dối thành Hoa Kiểu hay Hoa Cầu - Thành hoàng hai thôn Tam Kỳ và Phúc Thọ có tên là Hoa Kiểu Lang.
«Tren bức tường bên trong của miếu Ông Dã, phía Tây Nam làng Xuân Cấu hiện còn vết tích của một câu đối cách đây vài chục năm thấy chữ*Hoa Kieu rang” 20 “Theo các bậc cao. tiên trong làng, làng Xuân Câu xa xưa dược giới hạn bi bốn chiếc giếng cổ : Cổng Đóng, Đình Ba, Chợ (ba giếng này trước đây nằm trọ trong địa phận thôn Tam Kỳ và chủ yếu do dân thôn này dùng; nay chỉ còn giếng Đình Ba, nhưng đã thuộc quyền quản lý của một gia đình) và. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, chúng có cấu trú giống như giếng để được phát lộ tong Hoàng thành Thăng Long, được coi là có niên đại khoảng thế kỹ VIIL, khi nước ta chịu ách thống tị của là Đường. V6 sau dan cư tăng, làng xóm mở rộng ra ngoài khu vực bốn chiếc giếng cổ nêu trên Làng Xuân Cầu lúc đầu có hai xóm : Tam Kỳ và Phúc Thọ.
Điều này có thể khẳng định qua hiện tượng hai xóm này có chung một ngôi mig thir nh hoàng Hoa Kiểu La “Trong các kỳ hội trước đây, mỗi đơn vị ân cư. này đều 16 chức rước bài vị từ miếu về dình tế lẻ, kết thúc hội lại rước trả về miếu. Về sau, xuất hiện thêm một xóm mối là Lê Cao ở phía Bắc làng ‘Qua thd gian, dan cu đông đúc dân, các xóm này phát triển thành các thôn, có tính cá h như một làng, với tổ chức phe giáp, kỳ mục riêng, đình tiêng, thành hoàng riêng và tổ chức tế lễ, hội hè riêng. Tuy vậy, tính thối nhất của làng Xuân Cầu vẫn được duy tì, thể hiện ba thôn vẫn chung bản "hương ước để điều hành các công việc theo lệ tục, chung ngôi chùa, chung một văn chỉ và hội tư văn, chung bộ máy chức dịch.
Tính thống nhất của ba thôn thể hiện qua câu cá ¡ Em la con gi thon Le Làng em một xã chủa về ba thon XXuân Củu là nơi cứ tụ của hơn 30 dòng họ, gồm 10 ho To, 9 họ Nguyễn, 7 họ Quản, các họ Cao, Hoàng, Trịnh, Lê, Trần, Đặng, Đỗ, Phạm, Cao, Vũ, Ngõ, Chủ, Dinh, Đào, Ứng. An, Khương, Phùng. Cíc họ lớn là "Nguyên, Tô, Quản, Cao, họ Hoàng a "Đấu thế kỷ XIX, làng Hoa Cáu cũng là một xã đứng dầu tổng Hoa Cầu, huyện Văn Giang, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắ (ừ năm Minh Mạng thứ hai BI đối làm trấn Bác Ninh; năm thứ 12 1331 đổi làm in Bc Ni. “Từ đầu năm Tân Sửu (năm 1841), Thiệu Trị lên ngôi, vì ky húy mẹ vua là bà Hồ Thi Hoa, lang Hoa Cẩu phải đổi tên, khi nói thì là "Huê Cấu”, còn khi viết thi a “Xuan Ci Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Xuân Câu nhập với các làng Đồng Tỉnh, Đại Tài, Thọ Vực thành xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang.
Huyện nay sau đồ lần lượt thuộc các đơn vị hành chính : nh Hưng Yên (1947 - 1967), nh Hải Hưng (1968 - 1996) va tinh Hưng Yên (từ đầu năm 1907 đến nay) 'Ngày 11 tháng 3 nam 1977, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 58 CCP hợp nhất hai huyện Văn Giang và Yên Mỹ thành huyện Văn Yên.