phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương. Cơ sở lý luận về văn hoá gia đình và người Tày ở huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Chương 2. Thực trạng văn hoá gia đình truyền thống của người Tày ở huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Chương 3. Bảo tấn và phát huy các giá trị văn hoá gia đình truyền thống của người Tày ở huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn hiện nay hiểu đúng bản chất và truyền thống của gia đình Việt Nam, thấy được những nét tương đồng và những bản sắc riêng, độc đáo của văn hóa gia đình Việt Nam mà ở.
các nước khác không có. Để từ đó có thẻ đưa ra những dự báo xu thế vận động, giải pháp thiết thực nhằm phát huy vai trò to lớn của gia đình trong việc giữ gìn truyền thống quý báu của dân tộc, củng cố sự bền vững của gia đình: góp phần giữ vững ồn định xã hội, phát triển kinh tế, nuôi dưỡng, giáo dục và cung cấp nguồn. lực con người đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa dat nước. Nghiên cứu văn hóa gia đình còn giúp chúng ta hiểu được bản chất văn hóa, bởi vì gia đình được coi như "tế bào của xã hội” là cái nôi thân yêu của mỗi con người, đảm nhận chức năng cơ bản là duy tri noi giống, tái sản xuất con người và văn hóa hóa con người, nền tảng văn hóa gia đình chính là căn cốt để thực hiện văn hóa hóa con người, cung cắp nguồn nhân lực có chất lượng cho xã hội.
'Văn hóa gia đình mang những dấu ấn để lại trong đời sống vật chất, tinh thần của gia đình được biểu hiện thông qua các mối quan hệ, cấu trúc, chức năng, sinh hoạt, đời sống tâm linh. của gia đình. Khi bàn về văn hóa gia đình không. thể không đề cập đến vấn đẻ tôn giáo.
Theo nhiều nhà nghiên cứu không một hệ tư tưởng tôn giáo hay triết học nào ra đời trên đất nước chúng ta; Đạo giáo, Nho. giáo, Thiên chúa giáo. đều du nhập từ ngoài vào; người Việt đã chịu ảnh hưởng của tư duy, nếp sống, chữ viết, phong tục tập quán, lễ nghỉ của Nho giáo tiếp thu có chọn lọc trở thành bản sắc của ta. Nho giáo vạch rỡ ràng các quan hệ theo ho hàng, theo đẳng cấp, theo chức vị, dùng lễ nghỉ để thuyết phục pháp chế hóa.
trong gia lễ, trong hương ước; Nho áo khuyên con người hiểu nghĩa với ông. bà, cha mẹ; giáo dục con cháu, sống có trách nhiệm với gia đình, đất nước. Khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, văn hóa lại có sự biên đôi, có sự giao thoa. với nền văn hóa Pháp; về chữ viết lúc này ngoài chữ Nho xuất hiện thêm chữ.
quốc ngữ, dân ta học và thông thạo tiếng Pháp; ở nhiều nơi người Việt ta bắt đầu ăn mặc kiểu phương Tây, học các điệu khiêu vũ của Tây, rồi thiết kế kiểu cách. cho ngôi nhà cũng mang đậm nét phương Tây. văn hóa gia đình cũng bước đầu có những biến đổi về văn hóa ứng xử, lối sống, quyền con người. Đó là những dấu ấn được duy trì qua lịch sử, trở thành truyền thống, ăn sâu vào tiềm thức, chỉ phối hành vi giữa các thành viên trong gia đình, giữa gia đình với xã hội, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Cấu trúc của văn hóa gia đình Các nhà nghiên cứu trong sách chuyên khảo “Người phụ nữ trong văn hóa. gia đình đô thị”, đã phân tích cấu trúc văn hóa gia đình theo các dạng hoạt động eơ bản của gia đình và theo các hệ giá trị của gia đình. “Theo các dạng hoạt động cơ bản của gia đình, các nhà nghiên cứu đã chia cấu trúc văn hóa gia đình thành ba dạng: Thứ nhắt, văn hóa sản sinh và nuôi dạy con cái. Để đáp ứng nhu cầu trên, văn hóa gia đình đã tích lũy một loạt những tri thức, kinh nghiệm, cách thức, thái độ và các thể chế cho sinh nở vả nuôi dạy con người.
Từ những hiểu biết về quan hệ tính giao (rộng hơn quan hệ tình dục) đến. việc chăm sóc giáo dục thai nhỉ (thai giao) ở trong bụng mẹ đến lúc trưởng thành. Từ những thể chế đón nhận một sinh thể người ra đời cho đến lúc trưởng thành. Từ những tri thức của “thủa còn thơ” đến những kinh nghiệm, bản năng sống, phương thức ứng xử trong gia đình và xã hội.
Thứ hai, văn hóa vật chất và tiêu dùng các sản phẩm vật chất Để đáp ứng nhu cầu vật chất, gia đình và các thành viên của nó phải tiến hành sản xuất ra các sản phẩm vật chất cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Những sản phẩm ấy và các phương thức sử dụng nói lên trình độ chiếm lĩnh, khai thác các vật thê trong tự nhiên, trình độ phát triển lực. lượng bản chất của con người trong lĩnh vực sản xuất và đời sống vật chất. Từ những kinh nghiệm hiểu biết, kỹ năng, bí quyết trong sản xuất sản phẩm tiêu dùng.
đến cách thức, kỹ thuật công nghệ chế tác công cụ sản xuất, các phương tiện sử dụng, vũ khí chiến đấu. từ cách tiêu dùng, phân phối, hưởng thụ, trao đổi, dâng. biếu các sản phẩm vật chất đến thể chế phân chia tài sản, thừa kế gia sản đã tạo. nên văn hóa vật chất của gia đình.
Thứ ba, văn hóa tình thần và hưởng thự các sản phẩm tình than. Bên cạnh những biêu hiện, kinh nghiệm, cách thức ứng xử trong văn hóa sản. sinh, nuôi dạy con người, văn hóa sản xuất và tiêu dùng vật chất của gia đình là toàn. bộ những giá trị đạo đức, tín ngưỡng tâm linh, phong tục tập quan, thị hiếu thẩm mỹ.
và cả những bí quyết nghề nghiệp truyền thống. là phương diện văn hóa tỉnh thân của gia đình. Chúng được đúc kết lại thành hệ giá trị, chuẩn mực, khuôn mẫu văn hóa của gia đình (trong gia đình cô truyền gọi là gia phong). Hệ giá trị văn hóa gia đình là yếu tố cốt lõi làm nên đặc điểm riêng của mỗi loại hình gia đình và có sức mạnh chỉ phối đời sống tâm lý, tâm linh, hành vi ứng xử của các thành viên trong gia đình.
“Theo các hệ giá trị của gia đình, cấu trúc văn hóa gia đình cũng được chia làm 3 loại: "Một là, các giá trị cầu trúc: Đó là các giá tị gắn với các quan hệ bên trong, và bên ngoài của gia đình như quan hệ vợ - chồng; quan hệ giữa cha mẹ - con cái; quan hệ giữa các anh, chi, em; quan hệ giữa ông bà và các cháu trong gia đình; quan hệ giữa gia đình với họ tộc và cộng đồng. Chúng thể hiện thái độ, phương, thức ứng xử giữa các thành viên trong gia đình và giữa gia đình với họ tộc và cộng đồng Hai là, các giá trị chức năng: Đây là các giá trị thể hiện vị trí, vai trò của gia đình đối với sự phát triển xã hội qua các chức năng: sinh sản -tái sản xuấtra con người, giáo dục, kinh tế, thỏa mãn nhu cẩu tâm sinh lý, tình cảm của các thành viên trong gia đình. Ba là, các giá trị tâm linh: Đó chính là hạt nhân bắt biến của văn hóa gia đình. Các gia đình tuân theo, tôn thờ những giá trị không vụ lợi, những giá trị bắt nguồn từ cái thiêng liêng và cái bí ẩn trong đời sống tâm linh của con người.
Tuy nhiên, sự chia tách cấu trúc văn hóa gia đình theo hai dạng kể trên cũng chỉ là tương đối, bởi nhiều yếu tố thể hiện trong các dạng hoạt động cơ bản của gia đình và thể hiện ở hệ giá trị của gia đình không phải lúc nào cũng có sự tách biệt rõ ràng mà chúng vừa có mặt ở dạng này, vừa có mặt ở dạng kia (như văn hóa sản sinh nuôi dạy con người với chức năng sinh sản tái sản xuất ra con người và chức năng giáo dục, văn hóa vật chất với chức năng kinh tế. * Cấu trúc gia đình truyền thống người Tày ở huyện Bạch Thông. Gia đình đông con và nhiều thế hệ cùng chung sống trên một mảnh đắt của tổ. tiên là cấu trúc gia đình truyền thống của người Tày ở huyện Bạch Thông.
Một gia đình truyền thống người Tày với nhiều thế hệ sống chung thường. có tôn tỉ trật tự, những giá tri văn hóa được bồi đắp như “kính trên nhường dưới”, có được sự chia sẻ, điều hòa trong nếp sống và ứng xử giữa các thành viên ông. bà - cha mẹ - con cái. từ đó hình thành những chuẩn mực đạo đức và lỗi sống.
trở thành gia phong. 'Với người Tày truyền thống, gia đình là đơn vị duy nhất được xã hội thừa. nhận và cho phép tạo ra những công dân mới cho xã hội. Những qui định đối với hôn nhân trong xã hội cũ là rất ngặt nghèo, trên cơ sở "Lấy vợ xem tông, lấy chồng.
xem giống", dù có được tự do tìm hiểu nhau nhưng nếu gia đình không đồng ý cho. phép kết hôn cũng không được tự ý sống với nhau và vợ chồng thường là những người cùng làng hoặc làng bên cạnh không có họ hàng vì lúc đó con người chưa. i dau xa ra khỏi lũy tre làng nên rất ít người lấy vợ, lấy chồng xa; với những gia đình khá giá họ quan tâm nhiều hơn tới vấn đề môn đăng hộ đối, thậm chí vị trí trong dòng họ cũng phải tương xứng. Khi đã trở thành vợ chồng, dù dựa trên nền tảng tình yêu hay do sắp đặt họ đều tin tưởng vào cuộc hôn nhân của mình, chấp.
nhận và sẵn sàng bỏ qua những khiếm khuyết của người bạn đời. người vợ chẳng may qua đời thì người chồng sẽ đi bước nữa nhưng nếu người vợ góa chồng thì sẽ ở vậy cả đời thờ chồng nuôi con. 'Rất nhiều gia đình truyền thống của người Tày ở huyện Bạch Thông có đến. 15-20 người cùng sinh sống, tuy nhiên do cái phông văn hóa truyền thống và “nếp.
nhà” nên mâu thuẫn, xung đột trong gia đình rất hiếm khi xây ra hoặc nếu có những. bắt đồng thì sẽ được xoa dịu và giải quyết ngay sau đó. Mọi thành viên đều có ý' thức phải giúp đỡ nhau về mọi mặt: chăm sóc người già, trẻ em, lao động, sản xuất ra của cải vật chất. Các cô gái, chàng trai Tày ngay từ khi mới lớn đã được ông bà, cha mẹ mình dạy cho cách đối nhân xử thế, lao đông.
vì vậy có những trường hợp kết hôn khi mới 14, 15 tuổi nhưng họ đều thuần thục trong lao động sản xuất và sống đúng đạo lý, tuân thủ phép tắc trong gia đình.