Chương 1 TONG QUAN VE XA HUNG LAM VA DEN THANH LIET 1. TONG QUAN VE XA HUNG LAM, HUYEN HUNG NGUYEN, TINH NGHE AN * Viti dja lý Hung Lam 1a 1 trong 23 don vị hành chính (22 xã và 1 thi trin) của huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Xã Hưng Lam nằm ở phía Tây núi Lam Thanh ven sông Lam và cách trung tâm huyện Hưng Nguyên (thị trắn Hưng Nguyên) khoảng 15 km. Địa giới về phía nam của xã là sông Lam (còn có tên là sông Cả) ~ con sông lớn nhất của cả vùng Nghệ Tĩnh; phía tây là xã Hưng Xuân, phía bắc là xã Hưng Tiến, còn phía đông là núi Lam Thành, bên kia núi Lam Thành là xã Hưng Phú.
Xã Hưng Lam hiện nay có diện tích tự nhiên là 672, 02 ha, trong đó diện tích đắt canh tác là 281, 34 ha. Khác với các xã Hưng Tây và Hưng Yên, Hưng Lam không có núi và nằm ở vùng trũng của huyện Hưng Nguyên. Địa hình của xã có xu hướng thấp dần từ Tây sang Đông, vì thế, vào mùa mưa, nơi đây thường bị nạn úng lụt thường xuyên đe dọa, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống. Một điểm khác biệt của Hưng Lam với nhiều xã khác trong huyện là xã bao gồm cả làng ngoài đề và trong đê, tọa lạc ven hạ lưu sông Lam.
Theo nhiễu tài liệu, ngay từ thời Hùng Vương, nơi đây đã là địa bàn cư ngụ của người Việt cỗ. Năm 1469, vua Lê Thánh Tông đã ra chỉ dụ điều. chỉnh lại bản đồ hành chính và tên huyện Hưng Nguyên (trong đó có xã Hung Lam) chính thức ra đời từ đó. Năm 1490, niên hiệu Hồng Đức thứ 21, đời vua Lê Thánh Tông, Hưng Lam vẫn thuộc Hưng Nguyên - một huyện thuộc phủ Anh Đô, xứ Nghệ An.
Sau đó xứ Nghệ An đổi thành trấn Nghệ An, Hưng Nguyên là ly sở của đạoNghệ Anqua các triều đại Trần - Lê- Nguyễn suốt gần 300 năm. Năm 1831, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12, trấn Nghệ An tách thành 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh: huyện Hưng Nguyên thuộc phủ Anh Đô, tỉnh Nghệ An. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, huyện Hưng Nguyên thuộc tỉnh Nghệ An; năm 1970, 4 xã Hưng Hòa, Hưng Lộc, Hưng Đông, Hưng 'Vĩnh và một phần xã Hưng Chính được sáp nhập vào thành phố Vinh Sau nhiều lần chia tách, thay đổi địa giới hành chính, đến năm 1998, địa giới huyện Hưng Nguyên được xác lập như hiện nay (do sáp nhập thị trấn Thái Lão và xã Hưng Thái thành thị trắn Hưng Nguyên). Ngày 17tháng toàn bộ xã Hưng Chính và 174 ha diện tích tự nhiên và 3.043 của xã Hưng Thịnh sáp nhập vào thành phố Vinh [12, tr.
65- 75] Như vậy là dù đã trải qua nhiều lần thay đồi, chia tách, Hưng Lam vẫn là một xã truyền thống của huyện Hưng Nguyên. Hiện nay, xã Hưng Lam gồm 5 làng: Long Giang, Hưng Nhân, Hiệu Mỹ, Yên Cư và Thanh Liệt * Khí hậu Xã Hưng Lam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt: mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóng kéo dài từ giữa tháng Tư đến hết tháng Mười dương lịch. Mùa này nhiệt độ thường trên 25° C, nóng nhất là tháng 6 và tháng 7 (âm lich) nhiệt độ có lúc lên tới 39° C. Khi gió mùa Tây Nam (gió Lào) tràn qua dãy Trường Sơn mang theo khí nóng, khô làm cho nhiệt độ tăng đột ngột và khô ráp.
Với gió mùa Tây Nam, người và súc vật rất khó chịu, đất đai khô cằn, cây cỏ xác xơ. Mùa nóng thường có hạn hán, có năm kéo dài ba tháng liễnhậm chí có năm kéo dàihơn. Trong “ Nghệ An thỉ tập”, Hoàng giáp Bùi Huy Bích (1744— 1818) khi đó đang làm Đốc đồng trấn Nghệ An (1777 ~ 1781) dưới làm cọc đăng, rồi khi nước triều đã dâng cao, sẽ đem lưới có chân chỉ ra buộc. chặt vào những cọc đăng.
Khi nước triều xuống cạn sẽ ra bắt thủy sản. ~ Te: Te còn có tên gọi khác là lưới te. Đánh lưới te phải dùng thuyền. Dùng 2 gọng tre dài, chắc, buộc đầu gốc trên một cái trục ở mũi thuyền rồi mắc lưới vào.
Lưới đó chính là lưới te. Khi đan lưới te, cửa lưới và 2 bên điềm lưới thường then 2, đáy lưới then 1, nghĩa là đày hơn. (Then là đơn vị đo lường khi đan lưới. Khi đan lưới, lấy ngón tay lồng vào mắt lưới, vira mot ngón tay gọi là then 1, 2 ngón tay gọi là then 2.
Lưới te khi căng ra thả xuống sông sẽ trông tựa như hình tam giác. Khi đánh cá, bà con thả te xuống. Sau thời gian độ vài chục phút, vài ba người ra đạp đầu gốc của cần te ở mũi thuyền, theo kiểu đòn bẩy, nhắc lưới te lên. Để được nhiều cá, khi thả lưới te, chủ thuyền cho vài người dùng thuyền nhỏ bơi vòng quanh nơi thả lưới, một người chèo thuyền, một người gõ vào sạp thuyền hay mảnh ván để dồn.
cá vào lưới te. Vì thế, có nơi còn gọi lưới te là lưới gỡ. ~ Câu: Là việc gắn thức ăn của cá (mỗi) vào những lưỡi bằng kim loại để khi cá ăn những thức ăn đó sẽ mắc vào lưỡi câu. Có khá nhiều cách câu như: câu Ống, câu rà, câu vit, câu cặm, câu chì, câu chùm, câu phao.
~ Chài: Chài là một loại lưới nhưng là lưới nhỏ (then 1 là cùng), dan bằng sợi gai, sợi tơ hay sợi ni lông có hình chóp nón. Mép chài đan thành hàm, có gắn chỉ như tíu đựng. Đình (chóp) chải có gắn dây bằng sợi gai bén to như chiếc đũa va dài để giữ khi quăng và kéo chải. Đánh cá bằng chài có 2 cách: dùng thuyền nhỏ để quăng chài hoặc.
đứng trên bờ để quăng chải. Quăng chải cũng phải theo chiều nước. Chỗ nào nước hay quản, đánh bắt được nhiều cá, người ta mới quăng chải. Người quăng chải phải dùng lực của 2 tay, 2 vai và sức rướn của 2 chân; động tác quãng và xòe phải mềm mại, uyên chuyển để miệng chài xòe rộng nhất và văng xa theo ý muốn.
- Fó: Vó là công cụ đắnh bắt cá tôm bằng sự liên kết giữa lưới, gọng. Có 2 loại vó: vó tay, vó bè. - Đó: Đó cũng là loại công cụ bắt cá khá tiện lợi và có hiệu quả. Có nhiều loại đó, nhưng ở Hưng Lam, người dân chỉ sử dụng đó đựng.
có khung bằng tre hoặc nứa và lưới là lưới ni lông, thậm chí là mảnh ni lông phủ lên khung là được. - Lừ/lờ: lừ được đan bằng tre hoặc hóp. Tre/hóp giả, chẻ thành nan, vớt cho bóng, rồi đan hình lục giác hay hình mắt cáo thành ống, một đầu lõm vào, dé cửa cài cái hom lừ, thành thân lừ. Bên cạnh nghề đánh bắt thủy sản, ở Hưng Lam, mà điễn hình là làng Thanh Liệt còn có nghề mò hến.
Không chỉ ở Thanh Liệt của huyện Hưng, Nguyên có nghề này, mà suốt dọc sông Lam, các xã từ Nam Đàn xuống, đều. Hến sống ở nước ngọt, dưới lớp bùn mỏng của lạch, bàu. Nước cạn thì lội xuống để mò, hoặc nhặt hến từ những bàu cát, cồn cát nỗi giữa sông. Nếu nước sâu phải lặn ngụp xuống mới bắt được.
Phải lăn mò từng con một trong lớp bùn mỏng, mỗi lần chỉ mò được một con, nhiều. nhất là một nắm. Góp nhặt lâu sẽ thành nhiều, hến to nhất cũng chỉ bằng cái cúc áo, hến nhỏ đều đều như móng tay út. Văn hóa~ Xã hội * Phong tục tập quán 'Cũng như các xã trong huyện, Hưng Lam cũng hội tụ những nét truyền.
thống văn hóa của người Hưng Nguyên nói riêng của xứ Nghệ nói chung, Đời sống văn hóa ở đây phong phú và mang tính đặc trưng vùng miền. ~ Tục cưới hỏi Gồm có các bước sau: Tìm hiểu, tạo điều kiện cho trai gái gặp gỡ nhau, ăn dạm, ăn hỏi, xin cưới, lễ cưới. + Tìm hiểu: Có thể là do đôi trai gái, hoặc do gia đình nhờ cậy người trung gian đến gặp nhà gái mà mình đã tìm hiểu ưng ý để thăm dò, ngỏ lời. Người trung gian có thể là đàn ông hay đàn bà mà người dân xứ Nghệ gọi là “mai” tao digu kign cho trai gái gặp gỡ nhau; Thường là một phiên chợ, một hội làng, một cuộc hát vi, một bữa giỗ hay đám cưới nha ai đó dé đôi trẻ cho thể nhìn thấy nhau.
+ Ấn dạm: Nếu có người làm mối thì din may dai diện nhà trai trong đó nhất thiết phải có bố hoặc mẹ chàng trai và chàng trai tới nhà gái vào một ngày tốt lành với lễ vật trầu cau, chè rượu để xin cha mẹ cô gái gả cô gái mà mình đã tìm hiểu làm đâu con. Nếu nhà gái đồng ý thì mới có lễ này, đó là lễ nạp thái, còn gọi là lễ dạm vợ, lễ chạm ngõ. Lễ này đi đôi với lễ vấn danh, vì trước khi nha trai đi hỏi vợ cho con đã đò hỏi tên tuổi cùng ngày sinh tháng đẻ của cô con gái và bố mẹ của cô đề xem có hợp tuôi hay không và tránh cưới khi trùng họ. Nhà gái bằng lòng thì tiếp nhận lễ vật rồi dâng lên bàn thờ, kính cáo từ đường.
+ Ăn hỏi: Gồm trầu cau, rượu chè và bánh trái. Ngày trước thường. là bánh chưng và bánh dày, tượng trưng cho âm dương, Sau này chuyển sang. mâm xôi, thủ lợn hoặc thậm chí la dam can thịt lợn với bánh gai và quả nem.
Nhà gái nhận lễ ăn hỏi tức là chính thức công nhận việc gả con gái cho nhà trai. Kế từ ngày ăn hỏi, đôi trai gái đã nghiễm nhiên thành cặp vợ chồng chưa cưới, nhà gái coi chang trai la“ ban tử chỉ tình”. Những đồ lễ ăn hoi, nha gai dat một íL lên bản thờ cáo gia tiên, rồi hai 'bên ăn uống vui vẻ. Bánh trái, trầu cau,.nha gai “lai qua” cho nha trai mot phần, còn đem chia biếu cho bà con họ hàng nội ngoại xa gần.
Đó là cách báo tin mừng cho mọi người thân thích biết con gái đã được ga chồng, tục này gọi là tục “chia trầu”. Sau lễ ăn hỏi, hai bên đi lại với nhau một thời gian dài hay ngắn tùy. theo tuôi tác của đôi trai gái và điều kiện của hai gia đình. Trong thời gian đó bên nhà trai phải sêu tết, tức là mùa nào thức ấy, của nhà càng tốt, chàng.
rễ phải mang quà biếu cha mẹ vợ chưa cưới, khi quả mít, quả bưởi, chùm nhãn, con cá. Một năm 3 lần nhà trai đi tết nhà gái, gồm: tháng 5 (âm lịch), trước ngày Tết Đoan Ngọ, tháng 10 (âm lịch) vào độ làng tế Thường tân và cuối năm vào dịp Tết Nguyên Đán. Đồ tết thường vài ba cân thịt hay vài con cá, dăm cân xôi cùng trầu, rượu.