Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Việt Nam hiện có 7.966 lễ hội các loại, trong đó có tới 7.039 lễ hội dân gian, chiếm 88,36% tổng số lễ hội cả nước. Trung bình mỗi ngày có gần 2 lễ hội dân gian được tổ chức, phản ánh bức tranh sinh hoạt văn hóa làng xã phong phú và giàu bản sắc. Trong dòng chảy đó, lễ hội đền Thanh Liệt tại xã Hưng Lam, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An là một di sản phi vật thể đặc biệt gắn với đời sống vạn chài ven sông Lam.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ toàn diện nguồn gốc lịch sử, không gian thiêng, diễn trình nghi lễ và sự biến đổi của lễ hội đền Thanh Liệt trong xã hội đương đại. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa tư liệu lịch sử và đặc điểm kiến trúc của đền Thanh Liệt; khảo tả chi tiết các nghi lễ tế thần, rước hến và trò chơi dân gian xưa - nay; so sánh đối sánh với các lễ hội rước hến tại miền Trung; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn khả thi.

Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại làng Thanh Liệt thuộc xã Hưng Lam có tổng diện tích tự nhiên 672,02 ha (diện tích đất canh tác đạt 281,34 ha). Phạm vi thời gian nghiên cứu trải dài từ mốc lịch sử thành lập huyện Hưng Nguyên năm 1469 dưới triều vua Lê Thánh Tông đến giai đoạn khảo sát thực tế năm 2014. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong bối cảnh địa phương đang hiện đại hóa nhanh chóng với tỷ lệ học sinh đến trường đạt 99% và tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 98%, đòi hỏi phải gìn giữ giá trị truyền thống làm nguồn lực nội sinh để phát triển kinh tế bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng thế giới quan khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa làm nền tảng phương pháp luận. Về lý thuyết chuyên ngành, tác giả kết hợp 2 khung lý thuyết then chốt: Lý thuyết Cấu trúc - Chức năng trong nghiên cứu lễ hội dân gian (kế thừa các công trình của Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng, Lê Trung Vũ) và Lý thuyết Biến đổi văn hóa trong xã hội chuyển đổi. Mô hình nghiên cứu phân tích lễ hội như một chỉnh thể thống nhất gồm hai thành tố hữu cơ là phần Lễ (thế giới tâm linh, tính thiêng) và phần Hội (sinh hoạt văn hóa cộng đồng, tính tục).

Các khái niệm cốt lõi được thao tác hóa trong công trình bao gồm:

  • Cấu trúc Lễ và Hội: Mối quan hệ tương hỗ giữa hành vi tín ngưỡng thành kính và sinh hoạt giải trí dân gian.
  • Không gian thiêng: Phạm vi địa lý tâm linh trải rộng từ đền Thanh Liệt đến vùng hợp lưu ngã ba sông Lam và sông La.
  • Tín ngưỡng vạn chài: Hệ thống thờ phụng thủy thần và triết lý ứng xử với sông nước của ngư dân.
  • Biến đổi văn hóa: Sự điều chỉnh nghi thức, thời gian và quy mô lễ hội dưới tác động của điều kiện kinh tế - xã hội mới.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua quá trình khảo sát điền dã dân tộc học trực tiếp tại xã Hưng Lam trong giai đoạn 2011 - 2014. Tác giả thực hiện quan sát tham dự, phỏng vấn sâu 35 nhân chứng là các vị cao niên (từ 60 đến 85 tuổi), chức sắc ban tế lễ và khảo sát đời sống của hơn 50 hộ gia đình làm nghề cào hến ven sông Lam. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm tiếp cận những cá nhân nắm giữ tri thức dân gian chuẩn xác nhất về diễn trình lễ hội cổ truyền.

Luận văn kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa Văn hóa học, Lịch sử học, Dân tộc học và Xã hội học văn hóa. Bên cạnh đó, phương pháp so sánh loại hình văn hóa được thực hiện giữa lễ hội đền Thanh Liệt với 2 lễ hội rước hến tiêu biểu tại miền Trung là lễ hội rước hến Cồn Hến (phường Vĩ Dạ, Thừa Thiên Huế) và lễ hội rước hến làng Mai Xá (huyện Gio Linh, Quảng Trị). Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp giải mã chiều sâu biểu tượng của nghi lễ từ góc nhìn người trong cuộc, đồng thời định vị rõ tính đặc thù của di sản văn hóa xứ Nghệ trên bình diện khu vực.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn xác định đền Thanh Liệt là nơi lưu giữ lễ hội rước hến duy nhất còn lại trên toàn tỉnh Nghệ An. Không gian lễ hội mang tính độc bản khi mở rộng ra ngã ba sông Lam và sông La (dân gian gọi là Ngã Ba Phủ). Tục lệ cắm sào cấm cào hến từ lễ tất niên đến ngày mồng 10 tháng 2 âm lịch thể hiện rõ tri thức dân gian về bảo vệ sinh thái mùa hến sinh sản.

Thứ hai, nghiên cứu chỉ ra sự biến đổi rõ rệt về quy mô thời gian tổ chức. Trước năm 1945, lễ hội cổ truyền kéo dài 5 ngày (từ mồng 6 đến mồng 10 tháng 2 âm lịch). Hiện nay, lễ hội được tinh gọn còn 2 ngày (mồng 6 và mồng 7 tháng 2 âm lịch), giảm 60% thời lượng tổ chức nhưng vẫn bảo tồn nguyên vẹn 100% các đại lễ cốt lõi gồm: lễ khai quang (mồng 1/2), lễ mộc dục, lễ tế tại đền và lễ rước hến giống trên sông Lam với đoàn thuyền ghép từ 5 đến 7 chiếc.

Thứ ba, công trình làm rõ cấu trúc tích hợp tín ngưỡng đa tầng tại đền Thanh Liệt. Đền khởi nguồn thờ các Thủy thần tối cao như Long Vương cai quản sông lạch và Thần Sơn Tiêu Độc Cước, sau đó phối thờ Nhân thần là danh tướng Nguyễn Biểu (thế kỷ XV) và Thánh mẫu Liễu Hạnh. Phần hội duy trì các trò chơi dân gian quy mô lớn như cờ người với 32 quân cờ (16 nam, 16 nữ), hội đua thuyền với 4 thuyền đua và 4 thuyền dạo (mỗi thuyền có từ 10 đến 17 tay chèo), cùng các cuộc thi đẩy gậy trên sân đấu đường kính 5m và thi nấu cơm niêu trên bãi cát.

Thứ tư, qua so sánh liên vùng, trong khi nghề cào hến làng Mai Xá từng chiếm hơn 80% lao động nhưng lễ hội bị gián đoạn kéo dài và phục hồi năm 2000 với quy mô thu hẹp, lễ hội Thanh Liệt duy trì tính bền vững cao với tỷ lệ tham gia thực hành của cộng đồng địa phương luôn đạt trên 90% dân số trong làng.

Thảo luận kết quả

Sự biến đổi của lễ hội đền Thanh Liệt bắt nguồn từ sự chuyển dịch kinh tế làng nghề và quá trình quản lý nhà nước về văn hóa cơ sở. Việc chính quyền xã Hưng Lam thành lập Ban tổ chức với 5 tiểu ban chuyên trách từ năm 2007 đã giúp lễ hội diễn ra quy củ, an toàn, khắc phục tình trạng đứt đoạn sau năm 1975.

Dữ liệu nghiên cứu cho thấy các biến đổi này có thể được lượng hóa rõ ràng qua Bảng so sánh 6 bước diễn trình tế lễ xưa - nay và Biểu đồ phân bổ tỷ lệ người tham gia các trò chơi dân gian theo nhóm tuổi. Về mặt nghệ thuật biểu diễn, điệu hát ví đò đưa trên sông Lam với 3 âm la - ré - mí (quãng ba thứ) thể hiện rõ nỗi niềm lao động vất vả của người chèo đò ngược dòng, tạo nên giá trị văn hóa phi vật thể đặc thù so với các làn điệu dân ca vùng đồng bằng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tiến hành quy hoạch tổng thể và tu bổ kiến trúc di tích đền Thanh Liệt. Ủy ban nhân dân huyện Hưng Nguyên và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nghệ An cần chủ trì triển khai dự án trong giai đoạn 2015 - 2020, thực hiện tu bổ 100% các hạng mục hạ điện, trung điện đang xuống cấp và mở rộng 1.500 m2 khuôn viên cảnh quan bến sông phục vụ lễ rước.

Thứ hai, thực hiện số hóa và tư liệu hóa toàn bộ diễn trình lễ hội cổ truyền. Ban Quản lý di tích phối hợp với Phòng Văn hóa Thông tin huyện Hưng Nguyên trong thời gian 12 tháng hoàn thành việc ghi hình chuẩn hóa các bài chúc văn, nghi thức rước hến và phát hành 500 ấn phẩm cẩm nang di sản phục vụ công tác giáo dục truyền thống tại các trường học trên địa bàn xã.

Thứ ba, ban hành quy chế bảo vệ môi trường sinh thái hạ lưu sông Lam. Ủy ban nhân dân xã Hưng Lam phối hợp với Chi cục Thủy sản địa phương khôi phục nghiêm ngặt quy định cấm khai thác hến trước ngày mồng 10 tháng 2 âm lịch hàng năm. Mục tiêu đặt ra là gia tăng sản lượng hến tự nhiên từ 25% đến 30% sau 3 năm áp dụng, đảm bảo sinh kế bền vững cho các hộ vạn chài.

Thứ tư, thành lập Câu lạc bộ diễn xướng Dân ca Ví Giặm và Ví đò đưa Thanh Liệt. Đoàn Thanh niên xã phối hợp với Hội Người cao tuổi tổ chức sinh hoạt định kỳ 2 lần mỗi tháng, phấn đấu đào tạo tối thiểu 40 nghệ nhân trẻ kế cận trước năm 2018 nhằm duy trì không gian diễn xướng nguyên bản trên sông.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà nghiên cứu văn hóa học và văn hóa dân gian có thể sử dụng 100% tư liệu điền dã nguyên bản trong luận văn để phục vụ nghiên cứu so sánh về tín ngưỡng sông nước và lễ hội nghề nghiệp truyền thống tại Việt Nam.

Thứ hai, cán bộ quản lý văn hóa và chính quyền cơ sở cấp huyện, xã có thể tham khảo mô hình phân công 5 tiểu ban tổ chức lễ hội để áp dụng trực tiếp vào công tác quản lý hơn 7.000 lễ hội dân gian trên cả nước, đảm bảo tiêu chí trang trọng, văn minh và tiết kiệm.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn có thể sử dụng công trình làm tài liệu tham khảo phương pháp luận điền dã liên ngành và kỹ thuật so sánh loại hình lễ hội qua dữ liệu đối sánh tại 3 tỉnh Nghệ An, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế.

Thứ tư, các doanh nghiệp du lịch và tổ chức bảo tồn di sản có thể khai thác không gian ngã ba sông Lam cùng các trò chơi dân gian đặc sắc để xây dựng các tour du lịch văn hóa - sinh thái đường sông, phục vụ nhu cầu trải nghiệm của du khách trong và ngoài nước.

Câu hỏi thường gặp

Lễ hội đền Thanh Liệt thờ cúng những vị thần nào trong tín ngưỡng? Đền Thanh Liệt là trung tâm tín ngưỡng phụng thờ thần Long Vương làm thần chủ cai quản sông lạch, kết hợp thờ thần Sơn Tiêu Độc Cước, phối thờ danh tướng Nguyễn Biểu thời hậu Trần và Thánh mẫu Liễu Hạnh, tạo nên cấu trúc tích hợp dung hòa giữa Thủy thần bản địa và Nhân thần lịch sử.

Nét độc đáo nhất của nghi lễ rước hến trên sông Lam là gì? Nghi lễ rước thần trên sông diễn ra vào sáng ngày mồng 6 tháng 2 âm lịch với đoàn rước ghép từ 5 đến 7 thuyền đánh cá tiến ra Ngã Ba Phủ. Tại đây, chủ tế thực hiện nghi thức rải hến con xuống dòng sông trước toàn thể dân làng để cầu mong sản vật sinh sôi nảy nở.

Quy mô thời gian tổ chức lễ hội hiện nay thay đổi như thế nào so với cổ truyền? Thời gian tổ chức lễ hội ngày nay được rút ngắn từ 5 ngày (mồng 6 đến mồng 10 tháng 2 âm lịch) xuống còn 2 ngày (mồng 6 và mồng 7 tháng 2 âm lịch), tức giảm 60% thời gian nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ các nghi thức tế lễ và trò chơi dân gian chính.

Nghệ thuật hát ví đò đưa trong lễ hội có đặc trưng âm nhạc gì nổi bật? Ví đò đưa sông Lam là hình thức diễn xướng gắn liền với động tác chèo thuyền chống sào vượt thác ghềnh. Làn điệu này phát triển quanh 3 cao độ chủ đạo là la - ré - mí với âm vực quãng ba thứ mênh mang, mang âm hưởng trầm buồn phản ánh nhịp thở và sự lao động vất vả của cư dân sông nước.

Tục cắm sào cấm cào hến mang ý nghĩa thực tiễn như thế nào đối với môi trường? Tục cắm sào bắt đầu từ ngày lễ tất niên đến ngày mồng 10 tháng 2 âm lịch nghiêm cấm mọi hành vi khai thác hến trên sông Lam. Tập tục này thể hiện tri thức dân gian sâu sắc trong việc bảo vệ nguồn giống thủy sản trong mùa sinh sản, giúp tài nguyên thiên nhiên phục hồi bền vững.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện diện mạo lịch sử, kiến trúc và giá trị tín ngưỡng của đền Thanh Liệt, khẳng định đây là lễ hội rước hến độc nhất vô nhị trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
  • Công trình chứng minh sự tích hợp văn hóa đa tầng giữa tín ngưỡng thờ Thủy thần, Nhân thần và Mẫu thần trong không gian thiêng sông nước tại vùng hợp lưu sông Lam và sông La.
  • Nghiên cứu chỉ ra quy luật biến đổi văn hóa khi thời gian lễ hội tinh giản 60% nhưng bảo tồn nguyên vẹn 100% các giá trị cốt lõi nhờ sự chung tay giữa chính quyền và cộng đồng vạn chài.
  • Tác giả xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao nhằm bảo tồn di tích, số hóa tư liệu, phục hồi môi trường sinh thái và truyền dạy nghệ thuật hát ví đò đưa.
  • Đề tài mở ra hướng tiếp cận liên ngành giá trị cho các nhà quản lý văn hóa giai đoạn sau năm 2014, kêu gọi cộng đồng tiếp tục phát huy di sản dân gian thành nguồn lực phát triển du lịch bền vững.