Luận văn thạc sĩ văn hóa học lễ hội đền thanh liệt xã hưng lam huyện hưng nguyên tỉnh nghệ an

Khám phá luận văn thạc sĩ về văn hóa học lễ hội Đền Thanh Liệt xã Hưng Lam huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An, nghiên cứu sâu sắc giá trị truyền thống.

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

95
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh luận văn thạc sĩ văn hóa học lễ hội đền Thanh Liệt

Luận văn thạc sĩ văn hóa học với đề tài “Lễ hội đền Thanh Liệt (xã Hưng Lam, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An)” là một công trình nghiên cứu văn hóa lễ hội chuyên sâu, đi sâu vào việc phân tích và làm rõ những giá trị đặc sắc của một di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của văn hóa xứ Nghệ. Đề tài không chỉ dừng lại ở việc miêu tả một lễ hội truyền thống huyện Hưng Nguyên mà còn đặt ra vấn đề cấp thiết về việc gìn giữ bản sắc trong bối cảnh xã hội đương đại. Lễ hội đền Thanh Liệt, với nguồn gốc lâu đời, là lễ hội rước hến duy nhất còn lại trên đất Nghệ An, mang đậm dấu ấn của cư dân vùng sông nước. Công trình nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn toàn diện, từ cơ sở địa lý, lịch sử hình thành di tích lịch sử văn hóa đền Thanh Liệt đến các diễn trình lễ hội xưa và nay. Đây là một đề tài nghiên cứu khoa học quan trọng, góp phần bổ sung tư liệu quý giá vào kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam, đặc biệt là hệ thống tín ngưỡng dân gian Nghệ An. Luận văn đặt nền móng cho các giải pháp thực tiễn nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị cốt lõi của lễ hội, biến di sản thành nguồn lực phát triển bền vững.

1.1. Giới thiệu di tích lịch sử văn hóa đền Thanh Liệt

Đền Thanh Liệt tọa lạc tại làng Thanh Liệt, xã Hưng Lam, huyện Hưng Nguyên, là một trung tâm tín ngưỡng quan trọng của cộng đồng. Dù không có tài liệu ghi chép chính xác về niên đại khởi dựng, các di vật còn lại cho thấy đền được xây dựng vào khoảng thế kỷ XIX. Kiến trúc đền mang bố cục kiểu chữ đinh, tuy quy mô không lớn và không quá đặc sắc về nghệ thuật điêu khắc, nhưng vẫn là không gian thiêng liêng, nơi người dân gửi gắm niềm tin và ước vọng. Đền Thanh Liệt thể hiện rõ nét sự giao thoa trong tín ngưỡng thờ cúng của người dân địa phương.

1.2. Tìm hiểu các nhân vật được thờ tự tại đền Thanh Liệt

Vị thần chính được thờ tại đền là Long Vương, chúa tể của các thủy thần, cai quản sông nước, gắn liền với đời sống mưu sinh của ngư dân ven sông Lam. Bên cạnh đó, đền còn phối thờ các nhân thần, tiêu biểu là Nghĩa Liệt vương Nguyễn Biểu – một danh thần nhà Hậu Trần với khí phách hiên ngang, bất khuất trước giặc Minh. Việc thờ phụng Nguyễn Biểu thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và lòng tôn kính đối với các bậc anh hùng dân tộc. Ngoài ra, đền còn thờ thần Sơn Liêu Độc Cước và Thánh mẫu Liễu Hạnh, cho thấy sự tích hợp nhiều lớp tín ngưỡng, đáp ứng nhu cầu tâm linh đa dạng của sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

II. Thách thức trong bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể xứ Nghệ

Việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản các lễ hội truyền thống đang đối mặt với nhiều thách thức lớn, và lễ hội đền Thanh Liệt không phải là ngoại lệ. Luận văn đã chỉ ra thực trạng và giải pháp một cách rõ ràng. Sự biến đổi văn hóa lễ hội là một quy luật tất yếu do tác động của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và sự thay đổi trong nhận thức của thế hệ trẻ. Nhiều nghi lễ cổ đã bị giản lược hoặc mai một, các trò chơi dân gian dần mất đi sức hấp dẫn, thay vào đó là các hình thức giải trí hiện đại. Không gian thiêng của lễ hội cũng bị thu hẹp. Hơn nữa, nguồn kinh phí cho việc tổ chức và duy trì lễ hội còn hạn hẹp, chủ yếu dựa vào sự đóng góp của cộng đồng. Điều này đặt ra một bài toán khó cho các nhà quản lý văn hóa và chính người dân địa phương: làm thế nào để vừa bảo tồn được những giá trị cốt lõi, vừa giúp lễ hội thích ứng và phát triển trong đời sống đương đại, tránh nguy cơ bị thương mại hóa quá mức hoặc trở nên xa lạ với chính cộng đồng chủ thể.

2.1. Phân tích thực trạng biến đổi văn hóa lễ hội xưa và nay

Luận văn đã tiến hành so sánh chi tiết lễ hội đền Thanh Liệt xưa và nay. Trước đây, lễ hội kéo dài từ ngày 6 đến 10 tháng 2 âm lịch với quy mô lớn và các nghi thức được thực hiện vô cùng nghiêm ngặt. Ngày nay, thời gian lễ hội được rút ngắn chỉ còn 2 ngày. Một số tục lệ như tục kiêng cữ không cào hến trước lễ hội vẫn được duy trì, nhưng nhiều nghi thức cúng tế phức tạp đã được đơn giản hóa. Phần hội tuy có thêm các trò chơi mới nhưng lại thiếu vắng đi không khí linh thiêng và sự tham gia tự nhiên, nhiệt thành như trước kia.

2.2. Vấn đề cấp thiết trong việc bảo tồn và phát huy giá trị

Thách thức lớn nhất hiện nay là nguy cơ thất truyền các giá trị văn hóa phi vật thể. Thế hệ các cụ cao niên, những người nắm giữ tri thức về các nghi lễ, làn điệu hát ví, luật lệ trò chơi dân gian ngày càng ít đi. Trong khi đó, thế hệ trẻ lại ít có cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu sâu sắc về di sản của cha ông. Việc tư liệu hóa, ghi chép và truyền dạy lại những giá trị này trở nên vô cùng cấp bách. Nếu không có những hành động kịp thời, bản sắc độc đáo của lễ hội rước hến trên sông Lam có thể sẽ phai nhạt theo thời gian.

III. Phương pháp nghiên cứu văn hóa lễ hội đền Thanh Liệt chi tiết

Để có được một cái nhìn toàn diện, luận văn thạc sĩ văn hóa học đã áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu liên ngành như điền dã dân tộc học, lịch sử, văn hóa học và xã hội học. Trọng tâm của nghiên cứu là phân tích cấu trúc lễ hội, bóc tách hai thành phần cốt lõi không thể tách rời: phần lễ và phần hội. Phần lễ, với hệ thống các nghi thức cúng tế trang nghiêm, là linh hồn của lễ hội, thể hiện thế giới tâm linh và lòng thành kính của cộng đồng đối với các vị thần linh. Đây là không gian thiêng, nơi con người giao cảm với thần linh, cầu mong những điều tốt đẹp. Ngược lại, phần hội là không gian của đời sống trần thế, nơi diễn ra các trò chơi dân giansinh hoạt văn hóa cộng đồng, thể hiện sức sống, sự lạc quan và tinh thần đoàn kết. Sự kết hợp hài hòa giữa hai phần này tạo nên một chỉnh thể văn hóa độc đáo, phản ánh chân thực đời sống vật chất và tinh thần của cư dân vùng sông nước Hưng Nguyên.

3.1. Phân tích phần lễ Nghi thức cúng tế và tín ngưỡng dân gian

Phần lễ được tiến hành một cách bài bản với nhiều nghi thức nối tiếp nhau: lễ khai quang, lễ cáo yết, lễ mộc dục (tắm cho bài vị, đồ thờ), lễ tế tại đền và đặc biệt là lễ rước và tế thần trên sông. Nghi thức rước hến và rải hến giống xuống sông là điểm nhấn độc đáo nhất, mang ý nghĩa cầu mong một mùa khai thác bội thu, thể hiện triết lý nhân sinh về sự tái sinh và cân bằng với tự nhiên. Các nghi lễ này không chỉ là hoạt động tín ngưỡng mà còn là cách cộng đồng tái hiện lịch sử và củng cố niềm tin chung.

3.2. Khám phá phần hội Trò chơi dân gian và sinh hoạt văn hóa

Phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều trò chơi mang đậm đặc trưng văn hóa địa phương. Trò đua thuyền trên sông Lam thể hiện sức mạnh và sự khéo léo của các trai tráng miền sông nước. Các trò đấu vật, đẩy gậy, chọi gà, đánh cờ người... không chỉ mang tính giải trí mà còn là dịp để người dân rèn luyện sức khỏe, tài trí và tinh thần thượng võ. Đặc biệt, những làn điệu hát ví đò đưa, hát phường vải vang lên trên sông nước đã tạo nên một không gian văn hóa nghệ thuật đặc sắc, làm say đắm lòng người và là một phần không thể thiếu của văn hóa xứ Nghệ.

IV. Khám phá giá trị cốt lõi từ luận văn lễ hội đền Thanh Liệt

Công trình khóa luận tốt nghiệp văn hóa học này đã khẳng định lễ hội đền Thanh Liệt không chỉ là một sinh hoạt tín ngưỡng đơn thuần mà còn là nơi kết tinh và hội tụ nhiều giá trị văn hóa, lịch sử, xã hội sâu sắc. Đây là một bảo tàng sống động, lưu giữ ký ức lịch sử của cộng đồng về quá trình chinh phục tự nhiên và đấu tranh giữ nước. Mỗi nghi thức cúng tế, mỗi trò chơi dân gian đều ẩn chứa những lớp văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Lễ hội là môi trường giáo dục trực quan, giúp thế hệ trẻ hiểu về cội nguồn, về đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và củng cố ý thức cộng đồng. Thông qua việc cùng nhau tổ chức lễ hội, mối quan hệ làng xóm được thắt chặt, tạo nên sức mạnh đoàn kết to lớn. Những giá trị lịch sử văn hóa này chính là nền tảng tinh thần vững chắc, góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở và làm giàu thêm bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập.

4.1. Giá trị lịch sử văn hóa và giáo dục cộng đồng của lễ hội

Lễ hội tái hiện truyền thống lịch sử, đặc biệt là hình ảnh của danh thần Nguyễn Biểu, qua đó giáo dục lòng yêu nước và tinh thần bất khuất cho các thế hệ. Đồng thời, đây là dịp để cộng đồng gắn kết, giải quyết các mối quan hệ xã hội, tăng cường sự đoàn kết. Mọi người, không phân biệt tuổi tác, địa vị, cùng tham gia vào các hoạt động chung, từ đó tạo ra một môi trường sinh hoạt văn hóa cộng đồng lành mạnh và ý nghĩa. Lễ hội chính là sợi dây vô hình kết nối quá khứ với hiện tại, củng cố bản sắc của làng xã.

4.2. Đặc trưng văn hóa địa phương và các lớp văn hóa tích hợp

Lễ hội đền Thanh Liệt mang đậm đặc trưng văn hóa địa phương của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước kết hợp với nghề chài lưới ven sông. Tín ngưỡng thờ Thủy thần (Long Vương) phản ánh sự lệ thuộc và tôn kính thiên nhiên. Tục rước hến là biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực, cầu cho vạn vật sinh sôi. Bên cạnh đó, việc thờ các anh hùng dân tộc cho thấy sự tích hợp của lớp văn hóa Nho giáo về lòng trung nghĩa. Tất cả hòa quyện tạo nên một bức tranh văn hóa đa sắc màu, độc đáo của vùng đất Hưng Nguyên, Nghệ An.

V. Hướng dẫn giải pháp bảo tồn lễ hội đền Thanh Liệt hiệu quả

Từ việc phân tích sâu sắc thực trạng và giải pháp, luận văn đã đề xuất một hệ thống các giải pháp mang tính khả thi cao nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản lễ hội đền Thanh Liệt. Các giải pháp này không chỉ tập trung vào việc phục dựng các nghi lễ một cách máy móc mà hướng tới việc nâng cao nhận thức của cộng đồng, coi cộng đồng là chủ thể sáng tạo và gìn giữ di sản. Cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà khoa học và người dân địa phương. Việc xây dựng một kế hoạch tổng thể, vừa bảo tồn các yếu tố gốc, vừa tạo không gian cho sự sáng tạo phù hợp với đời sống hiện đại là yếu tố then chốt. Bên cạnh đó, việc quảng bá hình ảnh lễ hội một cách bài bản có thể gắn kết bảo tồn di sản với phát triển du lịch văn hóa, tạo nguồn lực kinh tế để tái đầu tư cho chính việc bảo tồn, hình thành một vòng tròn phát triển bền vững cho di sản.

5.1. Đề xuất giải pháp phục dựng và tư liệu hóa di sản

Giải pháp ưu tiên hàng đầu là tiến hành sưu tầm, ghi chép, quay phim, chụp ảnh một cách khoa học toàn bộ diễn trình lễ hội, đặc biệt là các bài văn tế cổ, các làn điệu hát ví, luật lệ của các trò chơi dân gian. Cần tổ chức các lớp truyền dạy cho thế hệ trẻ do chính các nghệ nhân, các cụ cao niên trong làng trực tiếp hướng dẫn. Phục dựng lại một số nghi thức đã mai một nhưng cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng để đảm bảo tính nguyên gốc và sự đồng thuận của cộng đồng.

5.2. Phương hướng phát huy giá trị gắn với du lịch văn hóa

Xây dựng lễ hội đền Thanh Liệt thành một sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng của huyện Hưng Nguyên. Cần đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, dịch vụ đi kèm nhưng phải đảm bảo không phá vỡ cảnh quan và không gian thiêng của di tích. Tổ chức các hoạt động quảng bá, giới thiệu lễ hội đến du khách trong và ngoài tỉnh. Lợi ích kinh tế từ du lịch cần được trích một phần để thành lập quỹ bảo tồn và phát triển lễ hội, hỗ trợ các nghệ nhân và khuyến khích sự tham gia của người dân.

14/08/2025
Luận văn thạc sĩ văn hóa học lễ hội đền thanh liệt xã hưng lam huyện hưng nguyên tỉnh nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TONG QUAN VE XA HUNG LAM VA DEN THANH LIET 1. TONG QUAN VE XA HUNG LAM, HUYEN HUNG NGUYEN, TINH NGHE AN * Viti dja lý Hung Lam 1a 1 trong 23 don vị hành chính (22 xã và 1 thi trin) của huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Xã Hưng Lam nằm ở phía Tây núi Lam Thanh ven sông Lam và cách trung tâm huyện Hưng Nguyên (thị trắn Hưng Nguyên) khoảng 15 km. Địa giới về phía nam của xã là sông Lam (còn có tên là sông Cả) ~ con sông lớn nhất của cả vùng Nghệ Tĩnh; phía tây là xã Hưng Xuân, phía bắc là xã Hưng Tiến, còn phía đông là núi Lam Thành, bên kia núi Lam Thành là xã Hưng Phú.

Xã Hưng Lam hiện nay có diện tích tự nhiên là 672, 02 ha, trong đó diện tích đắt canh tác là 281, 34 ha. Khác với các xã Hưng Tây và Hưng Yên, Hưng Lam không có núi và nằm ở vùng trũng của huyện Hưng Nguyên. Địa hình của xã có xu hướng thấp dần từ Tây sang Đông, vì thế, vào mùa mưa, nơi đây thường bị nạn úng lụt thường xuyên đe dọa, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống. Một điểm khác biệt của Hưng Lam với nhiều xã khác trong huyện là xã bao gồm cả làng ngoài đề và trong đê, tọa lạc ven hạ lưu sông Lam.

Theo nhiễu tài liệu, ngay từ thời Hùng Vương, nơi đây đã là địa bàn cư ngụ của người Việt cỗ. Năm 1469, vua Lê Thánh Tông đã ra chỉ dụ điều. chỉnh lại bản đồ hành chính và tên huyện Hưng Nguyên (trong đó có xã Hung Lam) chính thức ra đời từ đó. Năm 1490, niên hiệu Hồng Đức thứ 21, đời vua Lê Thánh Tông, Hưng Lam vẫn thuộc Hưng Nguyên - một huyện thuộc phủ Anh Đô, xứ Nghệ An.

Sau đó xứ Nghệ An đổi thành trấn Nghệ An, Hưng Nguyên là ly sở của đạoNghệ Anqua các triều đại Trần - Lê- Nguyễn suốt gần 300 năm. Năm 1831, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12, trấn Nghệ An tách thành 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh: huyện Hưng Nguyên thuộc phủ Anh Đô, tỉnh Nghệ An. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, huyện Hưng Nguyên thuộc tỉnh Nghệ An; năm 1970, 4 xã Hưng Hòa, Hưng Lộc, Hưng Đông, Hưng 'Vĩnh và một phần xã Hưng Chính được sáp nhập vào thành phố Vinh Sau nhiều lần chia tách, thay đổi địa giới hành chính, đến năm 1998, địa giới huyện Hưng Nguyên được xác lập như hiện nay (do sáp nhập thị trấn Thái Lão và xã Hưng Thái thành thị trắn Hưng Nguyên). Ngày 17tháng toàn bộ xã Hưng Chính và 174 ha diện tích tự nhiên và 3.043 của xã Hưng Thịnh sáp nhập vào thành phố Vinh [12, tr.

65- 75] Như vậy là dù đã trải qua nhiều lần thay đồi, chia tách, Hưng Lam vẫn là một xã truyền thống của huyện Hưng Nguyên. Hiện nay, xã Hưng Lam gồm 5 làng: Long Giang, Hưng Nhân, Hiệu Mỹ, Yên Cư và Thanh Liệt * Khí hậu Xã Hưng Lam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt: mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóng kéo dài từ giữa tháng Tư đến hết tháng Mười dương lịch. Mùa này nhiệt độ thường trên 25° C, nóng nhất là tháng 6 và tháng 7 (âm lich) nhiệt độ có lúc lên tới 39° C. Khi gió mùa Tây Nam (gió Lào) tràn qua dãy Trường Sơn mang theo khí nóng, khô làm cho nhiệt độ tăng đột ngột và khô ráp.

Với gió mùa Tây Nam, người và súc vật rất khó chịu, đất đai khô cằn, cây cỏ xác xơ. Mùa nóng thường có hạn hán, có năm kéo dài ba tháng liễnhậm chí có năm kéo dàihơn. Trong “ Nghệ An thỉ tập”, Hoàng giáp Bùi Huy Bích (1744— 1818) khi đó đang làm Đốc đồng trấn Nghệ An (1777 ~ 1781) dưới làm cọc đăng, rồi khi nước triều đã dâng cao, sẽ đem lưới có chân chỉ ra buộc. chặt vào những cọc đăng.

Khi nước triều xuống cạn sẽ ra bắt thủy sản. ~ Te: Te còn có tên gọi khác là lưới te. Đánh lưới te phải dùng thuyền. Dùng 2 gọng tre dài, chắc, buộc đầu gốc trên một cái trục ở mũi thuyền rồi mắc lưới vào.

Lưới đó chính là lưới te. Khi đan lưới te, cửa lưới và 2 bên điềm lưới thường then 2, đáy lưới then 1, nghĩa là đày hơn. (Then là đơn vị đo lường khi đan lưới. Khi đan lưới, lấy ngón tay lồng vào mắt lưới, vira mot ngón tay gọi là then 1, 2 ngón tay gọi là then 2.

Lưới te khi căng ra thả xuống sông sẽ trông tựa như hình tam giác. Khi đánh cá, bà con thả te xuống. Sau thời gian độ vài chục phút, vài ba người ra đạp đầu gốc của cần te ở mũi thuyền, theo kiểu đòn bẩy, nhắc lưới te lên. Để được nhiều cá, khi thả lưới te, chủ thuyền cho vài người dùng thuyền nhỏ bơi vòng quanh nơi thả lưới, một người chèo thuyền, một người gõ vào sạp thuyền hay mảnh ván để dồn.

cá vào lưới te. Vì thế, có nơi còn gọi lưới te là lưới gỡ. ~ Câu: Là việc gắn thức ăn của cá (mỗi) vào những lưỡi bằng kim loại để khi cá ăn những thức ăn đó sẽ mắc vào lưỡi câu. Có khá nhiều cách câu như: câu Ống, câu rà, câu vit, câu cặm, câu chì, câu chùm, câu phao.

~ Chài: Chài là một loại lưới nhưng là lưới nhỏ (then 1 là cùng), dan bằng sợi gai, sợi tơ hay sợi ni lông có hình chóp nón. Mép chài đan thành hàm, có gắn chỉ như tíu đựng. Đình (chóp) chải có gắn dây bằng sợi gai bén to như chiếc đũa va dài để giữ khi quăng và kéo chải. Đánh cá bằng chài có 2 cách: dùng thuyền nhỏ để quăng chài hoặc.

đứng trên bờ để quăng chải. Quăng chải cũng phải theo chiều nước. Chỗ nào nước hay quản, đánh bắt được nhiều cá, người ta mới quăng chải. Người quăng chải phải dùng lực của 2 tay, 2 vai và sức rướn của 2 chân; động tác quãng và xòe phải mềm mại, uyên chuyển để miệng chài xòe rộng nhất và văng xa theo ý muốn.

- Fó: Vó là công cụ đắnh bắt cá tôm bằng sự liên kết giữa lưới, gọng. Có 2 loại vó: vó tay, vó bè. - Đó: Đó cũng là loại công cụ bắt cá khá tiện lợi và có hiệu quả. Có nhiều loại đó, nhưng ở Hưng Lam, người dân chỉ sử dụng đó đựng.

có khung bằng tre hoặc nứa và lưới là lưới ni lông, thậm chí là mảnh ni lông phủ lên khung là được. - Lừ/lờ: lừ được đan bằng tre hoặc hóp. Tre/hóp giả, chẻ thành nan, vớt cho bóng, rồi đan hình lục giác hay hình mắt cáo thành ống, một đầu lõm vào, dé cửa cài cái hom lừ, thành thân lừ. Bên cạnh nghề đánh bắt thủy sản, ở Hưng Lam, mà điễn hình là làng Thanh Liệt còn có nghề mò hến.

Không chỉ ở Thanh Liệt của huyện Hưng, Nguyên có nghề này, mà suốt dọc sông Lam, các xã từ Nam Đàn xuống, đều. Hến sống ở nước ngọt, dưới lớp bùn mỏng của lạch, bàu. Nước cạn thì lội xuống để mò, hoặc nhặt hến từ những bàu cát, cồn cát nỗi giữa sông. Nếu nước sâu phải lặn ngụp xuống mới bắt được.

Phải lăn mò từng con một trong lớp bùn mỏng, mỗi lần chỉ mò được một con, nhiều. nhất là một nắm. Góp nhặt lâu sẽ thành nhiều, hến to nhất cũng chỉ bằng cái cúc áo, hến nhỏ đều đều như móng tay út. Văn hóa~ Xã hội * Phong tục tập quán 'Cũng như các xã trong huyện, Hưng Lam cũng hội tụ những nét truyền.

thống văn hóa của người Hưng Nguyên nói riêng của xứ Nghệ nói chung, Đời sống văn hóa ở đây phong phú và mang tính đặc trưng vùng miền. ~ Tục cưới hỏi Gồm có các bước sau: Tìm hiểu, tạo điều kiện cho trai gái gặp gỡ nhau, ăn dạm, ăn hỏi, xin cưới, lễ cưới. + Tìm hiểu: Có thể là do đôi trai gái, hoặc do gia đình nhờ cậy người trung gian đến gặp nhà gái mà mình đã tìm hiểu ưng ý để thăm dò, ngỏ lời. Người trung gian có thể là đàn ông hay đàn bà mà người dân xứ Nghệ gọi là “mai” tao digu kign cho trai gái gặp gỡ nhau; Thường là một phiên chợ, một hội làng, một cuộc hát vi, một bữa giỗ hay đám cưới nha ai đó dé đôi trẻ cho thể nhìn thấy nhau.

+ Ấn dạm: Nếu có người làm mối thì din may dai diện nhà trai trong đó nhất thiết phải có bố hoặc mẹ chàng trai và chàng trai tới nhà gái vào một ngày tốt lành với lễ vật trầu cau, chè rượu để xin cha mẹ cô gái gả cô gái mà mình đã tìm hiểu làm đâu con. Nếu nhà gái đồng ý thì mới có lễ này, đó là lễ nạp thái, còn gọi là lễ dạm vợ, lễ chạm ngõ. Lễ này đi đôi với lễ vấn danh, vì trước khi nha trai đi hỏi vợ cho con đã đò hỏi tên tuổi cùng ngày sinh tháng đẻ của cô con gái và bố mẹ của cô đề xem có hợp tuôi hay không và tránh cưới khi trùng họ. Nhà gái bằng lòng thì tiếp nhận lễ vật rồi dâng lên bàn thờ, kính cáo từ đường.

+ Ăn hỏi: Gồm trầu cau, rượu chè và bánh trái. Ngày trước thường. là bánh chưng và bánh dày, tượng trưng cho âm dương, Sau này chuyển sang. mâm xôi, thủ lợn hoặc thậm chí la dam can thịt lợn với bánh gai và quả nem.

Nhà gái nhận lễ ăn hỏi tức là chính thức công nhận việc gả con gái cho nhà trai. Kế từ ngày ăn hỏi, đôi trai gái đã nghiễm nhiên thành cặp vợ chồng chưa cưới, nhà gái coi chang trai la“ ban tử chỉ tình”. Những đồ lễ ăn hoi, nha gai dat một íL lên bản thờ cáo gia tiên, rồi hai 'bên ăn uống vui vẻ. Bánh trái, trầu cau,.nha gai “lai qua” cho nha trai mot phần, còn đem chia biếu cho bà con họ hàng nội ngoại xa gần.

Đó là cách báo tin mừng cho mọi người thân thích biết con gái đã được ga chồng, tục này gọi là tục “chia trầu”. Sau lễ ăn hỏi, hai bên đi lại với nhau một thời gian dài hay ngắn tùy. theo tuôi tác của đôi trai gái và điều kiện của hai gia đình. Trong thời gian đó bên nhà trai phải sêu tết, tức là mùa nào thức ấy, của nhà càng tốt, chàng.

rễ phải mang quà biếu cha mẹ vợ chưa cưới, khi quả mít, quả bưởi, chùm nhãn, con cá. Một năm 3 lần nhà trai đi tết nhà gái, gồm: tháng 5 (âm lịch), trước ngày Tết Đoan Ngọ, tháng 10 (âm lịch) vào độ làng tế Thường tân và cuối năm vào dịp Tết Nguyên Đán. Đồ tết thường vài ba cân thịt hay vài con cá, dăm cân xôi cùng trầu, rượu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ