phần mở đầu (11 trang), kết luận (5 trang), tài liệu tham khảo (3 trang), phụ lục (103 trang), luận văn chỉa thành 3 chương, Chương Ì: Tổng quan chung về lịch sử văn hóa làng Vân (18 trang) Chương 2: Lễ hội truyền thống đền Chính làng Vân (40 trang) Chương 3: Lễ hội đền Chính làng Vân trong đời sắng xã hội hi (16 trang) CHƯƠNG1 TONG QUAN CHUNG VE LICH SU VAN HOA LANG VAN 1.1, Lịch sử và điễu kiện tự nhiên 1. Điều kiện tự nhiền và tr dats Từ Thành phố Bắc Giang đi về phía Tây Nam khoảng 25 km, có một khu ‘dan cu sim uất, chợ họp đông vui, thuận đường thủy - bộ đó là làng Yên Viên (tên nôm là làng Vân), xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Lang Yên Viên có vị tr địa lý giáp với: - Phía Nam giáp làng Thổ Ha (cùng xã Vân Hà) ~ Phía Bắc giáp thon Ha Lat, xã Tiên Sơn ~ Phía Đông giáp cánh đồng xã Tiên Sơn ~ Phía Tây giáp sông Cầu Lãng Yên Viên nằm đọc theo bờ Bắc sông Cầu quanh năm nước chảy, phù sa bồi đắp thường xuyên, làm cho đất đai ở đây luôn màu mỡ, cây cối tốt tơi. Do làng ở vị trí ngay cạnh sông đất trùng thấp, chịu nhiều thiên tai lũ lụt cho nên người dân Yên Viên cũng sớm lo việc dip 48, lam thuỷ lợi và tưới tiêu. Từ xưa nhân dân chủ yếu là làm ruộng, hàng năm thường trồng các loại cây lương thực như: lúa, ngô, khoai, lạc, đâu, trồng dâu nuôi tằm.
về hủ công nghiệp có các nghề như thợ mộc, thợ xây, đan lái, đặc biệt là nghề nấu rượu của làng Yên Viên rắt nỗi tiếng. Lang Yên Viên rất thuận tiện về giao thông thủy và bộ. Từ thành phố Bắc Giang đến Yên Viên theo quốc lộ 1A cũ đến thị trấn Nếnh rẽ phải theo đường liên xã ra để sông Cầu là đến xã Vân Hà, ấn làng Yên Viên. Đây là phòng tuyển sông "Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt đã bảo vệ kinh thành Thăng Long xưa, thủ đô Hà Noi ngay nay, nên từ xưa được coi li rit quan trọng.
Còn một con đường bộ ở. Bắc làng đi ven dãy núi Tiên Lát, xưa chỉ đi được vào mùa khô vì mùa mưa nước ngập khó đi, ngày nay con đường này rất thuận lợi cho việc đi lại vì đường đã được nâng cao trải nhựa và đổ bê tông. Đường thủy chúng ta có thể từ thành phố Bắc Ninh qua bến đò của làng Đại Lâm bên kia bờ Nam sông Cầu, thuộc huyện Yên Phong là đến trung tâm làng Yên Viên. Theo đường thủy từ đãy ngược dòng sông Cầu chúng ta có thể lên Thái Nguyên hay xuôi về Bắc Ninh, Hải Dương.
Với hệ thống giao thông thủy, bộ như vậy, làng Yên Viên có vị trí thuận lợi để phát triển kinh tế — xã hội ở địa phương. Địa thế ở cạnh sông Cầu mang đến cho làng Yên Viên sự thuận lợi về giao thong vận tải buôn bán, nhưng cũng có mặt bắt lợi là nạn thuỷ tai lụt ng Lịch sử ghỉ lại việc đấp đê ở bờ Nam sông Cầu vào những năm 1076, vừa chống giặc nước lại vừa làm phong tuyến chống giặc phương Bắc. Thực ra công việc đắp đê là công việc thường xuyên của người dân làng Yên Viên, bởi. là nơi hợp lưu của sông.
u và sông Ngũ Huyện Khê nên chế độ thủy văn phức tạp. "Với vị thể “nhất cận thị, nhị cận giang” do thiên nhiên ban tặng, môi trường sinh thái đặc thù Ấy đã có ảnh hưởng lớn tới đồi sống văn hóa ~ xã hội của làng Yên Sự lựa chọn thần linh và đời sống tín ngưỡng, cả sự phát đạt về học hành, sự phong phú đời sống tỉnh thằn của cư dân ở đây, cũng có nhiều phẳn từ vị thể địa lý Ấy 1. Lịch sử hình thành và phát triển Lang Yên Viên là một ngôi làng cổ nằmở bờ Bắc của dòng sông Cầu. Đầu thể kỷ XIX làng Yên Viên thuộc tổng Tiên Lát, huyện Việt Yên, trần Kinh Bắc.
Sau cách mạng tháng Tâm (1945) làng đã nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, năm 1946 thuộc vào xã Yên Hà, huyện Việt Yên, đến 1949 lại thuộc vào xã Sơn Hà (do hai xã ‘Yen Ha va Tiên Sơn hợp thành). Từ năm 1975 đến nay làng Yên Viên thuộc xã Vân HHà, huyện Việt Yên, tinh Bắc, lang Làng Vân là một trong ba làng của xã Vận Hà là: làng Thổ Hà, làng Vân và Van Nguyệt Đức (sinh sống ở dưới sông Clu). Ling Vân nằm ở trung tâm của xã Vin Ha, xưa được chỉa làm 4 giáp là: giáp Thượng, giáp Trung, giáp Giữa và giáp Đông, ngày nay được chia làm Š xóm từ xóm I đến xóm 5. Các xóm xếp theo hình xương cá nằm trên bai rục đường chính chạy dọc làng theo hướng Bắc ~ Nam.
`Xã Vân Hà nói chung và làng Vân nói riêng có lịch sử tổn tai va phat wid ntừ lâu đồi. Ngay từ buổi bình mình của lịch sử, thời đại các vua Hùng mử nước, các chứng cứ lịch sử khảo cổ học, truyễn thuyết dân gian đã chứng mình rằng làng Vân là địa bản tụ cư tắt sớm của người Việt Cổ, Trên mảnh đắt như bán đảo nhô ra sông Cầu này đã hình thành những điểm tụ cư, tiền thân của các lng xóm Phía Đông làng Vân bên kia sông Cầu, các khảo cổ học đã phát hiện di chỉ Quả Cảm (nay thuộc phường Hòa Long, thành phố Bắc Ninh) thuộc thời đại đồ đồng với nhiều hiện vật phong phủ gồm: đồ gốm, đồ đồng như khuyên tai, gương đồng, ủu, dao găm bằng đồng. Ngược sông Cầu về phía bắc, ở di chỉ Đồng Lâm (sä Hương Lâm, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang) các nhà khảo cổ cũng phát hiện nhiều hiện vật bằng đá, bằng đồng như chỉ hi ới, dọi xe chỉ, mũi tên đồng, lưỡi câu “đồng, riu đồng, lục lạc, còn ở di chỉ xã Bắc Lý (huyện Hiệp Hòa) đã phát hiện thấy trống đồng 'Như vậy thời cổ đại, ở vùng ven sông Cầu là vùng đất tụ cư sớm của cư dẫn 'Việt cổ. Qua các hiện vật phát hiện được chúng ta có thể khẳng định rằng cư dân nơi đây đã có một trình độ phat trién cả về trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt cá, thủ công, nghiệp, giao lưu trao đổi với các vùng miễn gằn xa và có đời sống văn hoé tinh thin khá phong phú.
Đo vị tí tự nhiên nên làng Vân sớm nằm trong vùng chiến lược Vũ Ninh của nước Âu Lạc. Trong cuộc chiến tranh giữ nước đầu n của An Dương Vương, chống Triệu Đà (207 — 180 trước céng nguyên) Nam Binh Giang (tte sng Cau) đã là giới tuyến quân sự và chiến trường giữa bai bên, là con hảo tự nhiên bảo vệ kinh đô Cổ Loa. Người dân xã Vân Hà sớm tham gia vào chiến tranh giữ nước ở dai đắt này như truyền thuyết về việc lập lng Thổ Hà vào thời An Dương Vương, việc lập làng Vân vào thé ky VI ở nửa cuối thời kỳ Bắc thuộc hoàn toàn có cơ sở hiện thực lịch sử. Dưới thời Bắc thuộc, làng Vân nằm ở vùng ngoại vi của Luy Lâu và Long Biên, Do đó, làng Vân có nhiều mỗi giao lưu toàn diện và trực tiếp với các trung tâm, đồng thời cũng chịu ách kim kẹp, bóc lột và chính sách đằng hoá trực tiếp của chính quyền các triều đại Trung Quốc.
Người dân làng Văn sớm tham gia vào các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Lý Bôn, khi nghĩa quân tiến đánh vào các trụ sở Luy Lâu, Long Biên 'VỀ mặt quân sự, làng Vân nằm sát nơi giao nhau của sông Cẳu với con “đường bộ thiên lý (Đáp Cầu - Bắc Ninh). Bởi vậy, lãng Văn nằm gọn trang chỉ én trường chống Tổng lần thứ nhất, ngay sát thành Bình Lỗ vào năm 981. Trong trận “quyết chiến chống Tổng lin thứ 2, dưới triều Lý, cuối năm 1076 đầu năm 1077, làng Vân nằm ở giữa chiến trường lớn này. Từ năm 1077 các mũi tiến công của.
quân ởng đã tràn ới bờ Bắc sông Cầu, chúng đóng đại bản doanh ở khu vực xã Quang Châu, huyện Việt Yên ngày nay, đối diện với khu Thị Cầu. Một cánh quân khác, do phó tướng Triệu Tiết chỉ huy, đóng ở xã Mai Dinh huyện Hiệp Hoà, các bộ phân khác đóng ở Tiên Lát, Núi Voi, núi Chùa, núi Lều. ngay sắt làng Vân "Người dân làng Vân đã trực tiếp tham gia những trận đánh oanh liệt của quân dân Dai Việt ở phòng tuyển bờ Nam sông Cầu góp phần tích cực vào chiến công chung. của dân tộc Dưới thời Lê Nguyễn: làng Vân nằm trong phủ Bắc Hà, thừa tuyên Kinh Bắc.
Đây là giai đoạn công thương của xã Vân Hà ní chung và làng Vân nói riêng. rất phát triển. Cảng sông sằm uất thường xuyên thông dat dén tin miễn biển, đúng với cảnh người xưa đã về nên: Vân Hà có “vóc nhiều trong chợ", “nhà hàng rượu dùng dồn làm gáo mức rượu bẩn” “người lõi tuyên lấy chiếu lim bud đây tuyên đá”. Chính từ sự giao thương Ấy mới có* lước mắm Van Văn” in dẫu rong ca dao, nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải còn giữ được danh tiếng cho đến trước năm 1945.
Chợ làng Vin tồn tại suốt mẫy trấm năm, được coi là cắc chợ lớn của vùng Kinh Bắc. Sách Đụi Nam nhất thống chỉ của Quốc Sử quân nhà Nguyễn viết: "Phổ chợ vạn Phúc, Yên Vien, Dinh Kể và Bắt Tràng, thuyền bè tụ họp, người buốn bắn qua lại, cũng là đắt đõ hội hay: chợ Yên Viên: nắu rượu trắng rắt ngon” (30,tr. 93} Do vì tr địa lý và vai trồ kinh tế quan trọng đồ, vào đầu triều Nguyễn làng Yên 'Viên từng là ly sở của huyện Yên Việt Hưởng ứng phong trào chống thực dân Pháp của Hoàng Hoa Thám, nhân cđân làng Vân đã tham gia vào cuộc khởi nghĩa này ngay từ buổi ban đầu. Trong đó có những người con làng Vân như: bà Đặng Thị Nhu (hay còn gọi là bà ba Cẩn), ‘Ding Văn Can, Đặng Văn Cán, Nguyễn Văn Cầu, Cai Vân.
cùng với nhiều nhân vật nỗi tiếng khác của huyện Việt Yên. Bà ba Cần vốn họ Nguyễn, cha là Nguyễn Văn Trụ, một nhà nho có tiếng ở làng Vân. Sau gia đình chuyển cư lên Yên Thể đổi ra họ Đặng đem theo nghề trồng đâu, chăn tằm và nấu rượu của quê nhà. Bà ba Cẩn sinh năm Bính Tý (1876) là vợ thứ ba của Để Thám.