CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NHU CẦU XEM PHIM, PHIM NHẬT BẢN VÀ GIỚI TRẺ HÀ NỌI 1. Nhu cầu xem phim 1. Một số khái niệm cơ bản. Phân loại nhu cầu xem phim 1.
Sơ lược về điện ảnh Nhật Bản 1. Lịch sử và thành tựu. Các dòng phim Nhật Bản đặc sắc hiện nay 1. Đặc điểm gi trẻ Hà Nội 1.
Trình độ học vấn 1. Đặc điểm tính cách 1. Đời sống vật chất và tinh thần CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHU CÀU XEM PHIM NHẬT BẢN CỦA GIỚI TRẺ HÀ NỘI 2. Nguyên nhân xem phi Nhật của giới trẻ Hà Nội 2.
Nguyên nhân chủ quan 2. Nguyên nhân khách quan 2. Thời gian và phương thức xem phim cia giới trẻ Hà Nội 2. Qua truyền hình 2.
Qua rạp chiếu phim 2. Những đề tài phim thu hút giới trẻ Hà Nội lhững dòng phim đặc trưng được giới trẻ Hà Nội quan 2. Dang phim live-action dung tir manga 2. Dong phim siêu anh hùng Tokusatsu 2.
Dòng phim người lớn Nhật Bản CHƯƠNG 3: NHẬN ĐỊNH HIỆN TRẠNG VÀ DỰ BÁO XU HUONG NHU CAU XEM PHIM NHẬT BẢN CỦA GIỚI TRẺ HÀ. Đánh giá khả năng cung ứng phim Nhật Bản với giới trẻ Hà Nội 3. Những tác động của phi Nhật Bản tới giới trẻ Hà Nội 3. Tác động tích cực 3.
Tác động tiêu cực 02 3. Dự báo xu hướng nhu cầu xem phim Nhật của giới trẻ Hà Nội 05 KẾT LUẬN 07 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 08 PHỤ LỤC DANH MỤC CAC BIEU DO Biểu đồ 2.1 Tỉ lệ % đề tài ưa thích giữa các nhóm tuôi Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ thích đọc manga của khách thê tham gia khảo sát Biểu đồ 2.3: Đánh giá mức độ hài lòng với phim live-action của khách.4: So sánh mức độ thích giữa các phiên bản phim live- action cia “Hana Kimi” Biểu đồ 2.5: Tỉ lệ fan Tokusatsu của khách thê tham gia khảo sát Biểu đồ 2.6 Quang thời gian xem phim Tokusatsu của khách thé Biểu đồ 2.7: Tỉ lệ % theo dõi phim Tokusatsu hiện tại của khách thể Biểu đồ 2.8: Sự quan tâm theo thành phó với tứ khóa "JAV" theo Google Trends MO DAU 1. Tính cấp thiết của đề tài 'Vào những năm của thập niên 1990, công chúng thủ đô đã có cơ hội tiếp xúc với nền điện ảnh Nhật Bản qua những bộ phim truyền hình như “Oshin”, “Chuyên nữ tiếp viên hàng không”, “Aguri”, *Ngôi sao may mắn”, v.Những bộ phim này đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp về hình ảnh con người Nhật Bản với đức tính cần củ, chịu khó vượt qua những gian lao thir thách đề vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn tràn đầy lý tưởng và hoài bão. Dấu ấn rõ nét của điện ảnh Nhật tại Việt Nam cho đến ngày nay là từ “Oshin”, tên nhân vật chính trong bộ phim cùng tên đã trở thành từ lóng để chỉ những người giúp việc và lời thoại “Có lên Chiaki” trong phim “Chuyện nữ tiếp viên hàng không” đã trở thành câu nói cửa miệng kinh điển của giới trẻ Hà Nội khi cần khích lệ ai đó.
Nhưng kể từ những năm cuối của thập niên 1990, với sự phát sóng ồ ạt của phim truyền hình Hàn Quốc và Trung Quốc, những bộ phim Nhật Bản đã dần lùi vào dĩ văng và cho tới ngày nay, mỗi khi nhắc về phim Nhật, nhiều người, đặc biệt những người lớn tuổi chỉ hình dung về một Oshin khô cực làm thuê hay một Chiaki vất vả vượt qua các ky sát hạch để trở. thành nữ tiếp viên hàng không đích thực. Tuy vay, trong giai đoạn hiện nay, sức mạnh khổng lồ của các phương tiện truyền thông, mạng lưới Internet, truyền hình cáp, truyền hình kỹ thuật số tiên tiến vượt bậc đã phá vỡ thế “độc quyền” vốn có của truyền hình thông, thường, tạo điều kiện thuận lợi cho công chúng thủ đô ngày càng tiếp cận với nhiều nền điện ảnh khác nhau trên thế giới qua nhiều hình thức đa dạng. Và điện ảnh Nhật Bản như một luồng gió mới đã hấp dẫn giới trẻ Hà Nội, những, con người nắm bắt công nghệ hiện đại nhanh nhạy và ham thích trải nghiệm những thứ mới mẻ đã đón nhận với niềm hào hứng và say mê.
Trong rừng, tăng cường hiểu thêm về văn hóa, xã hội của nhau và tạo thêm sự gắn kết lẫn nhau giữa các thế hệ trẻ hai nước. Năm 2013 cũng là năm đài truyền hình Việt Nam và đài truyền hình TBS của Nhật hợp tác khá toàn diện dự án phim “Người cộng sự" nhằm tái hiện tình bạn cao đẹp giữa người khởi xướng phong trào Đông Du, chí sỹ yêu nước Phan Bội Châu và bác sỹ người Nhật, Asaba Sakirato từ hơn 100 năm trước. Giới trẻ Việt Nam cũng như giới trẻ Hà Nội yêu thích điện ảnh Nhật Bản vô cùng quan tâm đến diễn biến của sự kiện này. Người viết hy vọng rằng quá trình thực hiện và kết quả của đề tài sẽ góp.
phần vào việc giao lưu văn hóa, thúc đây mồi quan hệ tốt dep von có giữa hai nước Việt Nam và Nhật Bản. Lịch sử nghiên cứu của vấn đề 'Qua quá trình nghiên cứu tài liệu, tôi thấy những vấn đề liên quan nhu giải trí, đời sống văn hóa của giới trẻ Hà Nội trong thời gian rỗi đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu trên nhiễu lĩnh vực và phạm vi khác nhau. Vi du: Luận án tiến sỹ Xã hội học “Nhu cầu giải trí của giới trẻ Hà Nội hiện nay” (2001) của tác giả Đinh Thị Vân Chỉ tập trung vào 3 mảng lý luận về giải trí và nhu cầu giải trí của thanh niên; nhu cầu giải trí của thanh niên Hà Nội hiện nay và sự đáp ứng của xã hội đối với nhu cầu đó và xu hướng biến đôi và giải pháp nâng cao hiệu quả đáp ứng nhu cầu giải trí cho thanh niên Sách tham khảo “Nhu c¿ giải trí của thanh niên”(2003) của tác giả Đinh Thị Vân Chỉ nghiên cứu về hoạt động giải trí của thanh niên hiện nay; vai trò và tầm quan trọng của giải trí trong đời sống xã hội và xu hướng biến đổi và giải pháp nâng cao hiệu quả đáp ứng nhu cầu giải trí cho thanh niên. Luận văn thạc sỹ Xã hội học Nhu cầu âm nhạc của sinh viên: Nghiên cứu tại Đại học quốc gia Hà Nội” đã nghiên cứu về nhu cầu thưởng thức âm nhạc và các yếu tô ảnh hưởng nhu cầu âm nhạc của sinh viên.
Luận văn thạc sỹ Văn hóa học “ Nhạc nhẹ trong đời sống văn hoá thanh. niên Hà Nội hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Anh. Luận án phó tiến sỹ Triết học “Nhu cầu điện ảnh của công chúng điện ảnh Việt Nam hiện nay (Những đặc trưng và xu hướng biến đổi)” (1993) của tác giả Nguyễn Văn Thư dưới góc độ lịch sử, từ phương diện hoạt động của điện ảnh, dưới góc độ cá nhân, đặc trưng và xu hướng biến đôi. Luận án tiến sỹ Tâm lý học “Nghiên cứu nhu cầu điện ảnh của sinh viên” (2006) của tác giả Hoàng Trần Doän luận về nhu cầu điện ảnh của sinh viên trong giai đoạn hiện nay và chỉ ra một số nguyên nhân, dé xuất một số biện pháp tác động nhằm biến đổi nhu cả điện ảnh của họ theo hướng nâng cao cấp độ và phương thức thoả mãn.
Tác giả Hoàng Trằn Doãn cũng có nhiều bài viết đăng trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật như “Về nhu cầu điện ảnh của công chúng hiện nay” (2000), “Điện ảnh và truyền hình ở nước ta hiện nay” (2001), “Đặc điểm của nhu cầu điện ảnh” (2002). Luận văn thạc sỹ Văn hóa học “Ảnh hưởng của phim Hàn Quốc đối với đời sống văn hoá của sinh viên Hà Nội hiện nay (Qua nghiên cứu 03 trường. Đại học)” (2009) của tác gi Vũ Hoa Ngọc phân tích thực trạng ảnh hưởng của “làn sóng” Hàn Quốc qua phim truyền hình tới sinh viên Hà Nội. Những bài viết đăng trên tạp chí Văn hóa Nghệ thuật cũng đã phân tích và bàn luận nhiều về nhu cầu và thị hiếu điện ảnh, tiêu biểu như những bài viết của các tác giả sau đây: “Nhu cầu và thị hiểu khán giả điện ảnh” (1997) của các tác giả Vũ Quang Chính, Trần Luân Kim, Lưu Danh Hùng; “Thực trạng điện ảnh và thị hiểu điện ảnh của khán giả ngày nay” (2006) của tác giả Đặng Minh Liên và *Khán giả Hà Nội với điện ảnh” (2002) của tác giả Đỉnh Công Hiệp.
Nhìn chung những đề tài này đều khảo sát trên diện rộng, thời gian thực hiện cũng đã lâu và tính đền thời điểm này, chưa có tác giả nào đi sâu tìm hiểu. cụ thể về nhu cầu xem phim Nhật Bản của giới trẻ Hà Nội hiện nay. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích của đề tài hướng đến thông qua phân tích thực trạng nhu cầu xem phim Nhật của giới trẻ Hà Nội nhằm tìm hiểu nguyên nhân xuất phát của nhu cầu này, những yếu tố ảnh hưởng và tác động xoay quanh vấn đề trong. giai đoạn hiện nay đề từ đó đưa ra những đánh giá, dự báo diễn biến xu hướng, của nhu cầu này.
Đề tài đặt ra những nhiệm vụ sau day cin được giải quyết ~ Nhận diện được những cách thức xem phim, thể loại, đề tài của phim Nhật được giới trẻ Hà Nội quan tâm. ~ Phân tích và lý giải nguyên nhân vi sao giới trẻ Hà Nội lựa chọn xem phim Nhật trong số các phim nước ngoài phổ biến hiện nay. ~ Đánh giá nhu cầu và dự báo xu hướng xem phim Nhật của giới trẻ Hà Nội trong thời gian tới 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đẻ tài là nhu cầu xem phim Nhật Bản với khách thể là giới trẻ trên mang thích phim Nhật ở độ tuổi từ 15 đến 29 đang sinh sống, học tập và làm việc trên địa bàn thủ đô Hà Nội.
Đề tài lấy phạm vi từ năm 2009 đến 2013 để tìm hiểu, phân tích, đánh giá nhu cầu xem phim Nhật Bản của giới trẻ Hà Nội. Với khuôn khổ của luận văn và thời gian hạn hẹp nên để tài sẽ không nghiên cứu về mảng phim hoạt hình và phim tài liệu mà chủ yếu tập trung vào mảng phim truyện Nhật Bản. Phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, người viết đã sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, trong đó chú trọng các phương pháp quan sát, phỏng vấn, điều tra xã hội học qua Internet, phương pháp tâm lý học, phương pháp tiếp cận thông tin, nghiên cứu tài liệu.