phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương: Chương l: Đời sống. hóa của thanh niên và tổng quan về thanh Ba Đình hiện nay Chương 2: Thực trạng đời sống hóa cũa thanh niên quận Ba Dinh Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao đời sống cho thanh niên quận Ba Đình Chuong 1 ĐỜI SÓNG VĂN HÓA CỦA THANH NIÊN VA TONG QUAN VE THANH NIEN QUAN BA Di 1. Những khái niệm chung 1. Văn hoá và đời sống văn hoá.
'Văn hóa là một trong những khái niệm phức tạp và khó xác định. đến nay đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa, do các nhà nghiên cứu về văn hóa, các tổ chức và các quốc gia trên thể giới công bổ, Ở phương Tây, thuật ngữ văn hóa có nguồn gốc từ tiếng Latinh (Cultus), nghĩa là gieo trồng, sau chuyển nghĩa thành vun trồng trí tuệ con người. Vào thời cận hiện đại, khái niệm văn hóa được sử dụng phổ biến dé chỉ trình độ học vấn, học thức, trí thức, phép lich sự. Do nhu cầu phản ánh các hoạt động xã hội, khái niệm văn hóa đã được mở rộng trên nhiều lĩnh vực của.
đời sống, đặc biệt chỉ trí tuệ của con người cũng cần được gieo trồng, vun xới như cây cối, văn hóa là việc gieo trồng trí tuệ cho con người. Ở phương Đông, trong ngôn ngữ Trung Hoa cổ đại, văn hóa xuất hiện với hai nghĩa, văn hóa là “nhân văn giáo hóa” và “văn trị giáo hóa”. Nghĩa thứ nhất, văn hóa là “nhân văn giáo hóa” tức là tác động đến cá nhân, biến sinh thể người thành con người xã hội. Ngl thứ hai văn hóa là “văn trị giáo hóa”, văn trị là lấy đức để giáo hóa, đưa con người vào trật tự ky cương, phép tắc, lễ nghĩa mà tổ chức, quản lý, cai trị họ, xem “văn trị” đôi lập với “vũ trị”.
Nêu như theo cách hiệu thứ nhất văn hóa là “nhân văn giáo hóa”, đem văn hóa tác động vào cá nhân thì theo cách hiểu thứ hai “van tri giáo hóa” là đem văn hóa tác động vào cộng đồng để tổ chức cộng đồng, tổ chức xã hội 'Như vậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, khái niệm văn hóa đều có. nghĩa tương đồng với nhau, con người muốn hoàn thiện phải được văn hóa hóa. Trong quan niệm triết học, văn hóa được biểu thị như phương thức hoạt động của con người bao chứa toàn bộ các sản phẩm vật chất tỉnh thin do con người sáng tạo ra cũng như năng lực phát triển của chính bản thân con người. 'Văn hóa có mặt ở bắt cứ hoạt động nào của con người.
Như vậy, có thể khẳng, định, văn hóa là tổng hòa các giá trị mà con người sáng tạo ra trong suốt quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội của mình nhằm thúc đẩy sự phát triển xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: Vi lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. những sáng tạo và phat minh đó tức là văn hóa [32, tr431] Theo quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa là toàn bộ những gì đo con người sáng tạo ra, là "thiên nhiên thứ hai”, ở đâu có con người, quan hệ giữa con người với con người thì ở đó có văn hóa. Năm 1988, UNESCO phát động thập kỷ thế giới phát triển văn hóa. (1988 — 1997), ông Federico Mayor (nguyên tổng giám đốc UNESCO) đã đưa ra khái niệm: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các nhân và cộng đồng, trong quá khứ và trong hiện tại.
Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành tạo nên hệ thống giá trị, các truyền thống, thị hiếu, đặc trưng riêng của mỗi dân tộc”. ‘Nhu vay, có thê hiểu, văn hóa là hoạt động sáng tạo của con người trong. quá khứ và hiện tại, thể hiện hành vị, trình độ ứng xử đối với môi trường tự nhiên và xã hội, tạo ra những chuẩn mực, những giá trị làm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người nhằm vươn tới chân — thiện - mỹ. Khái niệm đời sống văn hóa.
Đời sống văn hóa là một thuật ngữ khoa học, khái niệm này ra đời vào thé ky XX. Thuật ngữ đời sống văn hóa hiện nay đang được sử dụng rất nhiều. trên các phương tiện thông tìn đại chúng, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thực sự về “Đời sống văn hóa” thật hoàn chinh. sóc nhìn khác nhau, các cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số quan niệm khác nhau về đời sống văn hóa.
Theo đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, đời sống được định nghĩa là: "Hoạt động của con người về một lĩnh vực nào đó nói chung” [46, tr670]. Theo từ điển bách khoa mở, thì ngoài nghĩa nói trên, đời sống còn được hiểu là phương tiện để sống, lối sống của cá nhân hay tập thể. Đời ig của con người bao gồm rất nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng có liên quan mật thiết với nhau, chẳng hạn như: đời sống kinh tế, đời sống chính trị, đời sống xã hội, đời sống văn hóa. “Theo giáo sư Hoàng Vinh trong công trình nghiên cứu “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta” cho rằng: Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu.
tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn. hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng. hoạt động văn hóa của nó). Xét về một phương diện khác, đời sống.
văn hóa bao gồm các hình thức văn hóa hiện thực và cả các hình thức sinh hoạt văn hóa tâm lĩnh [40, tr268] Định nghĩa này về cơ bản đã phản ánh được cấu trúc của đời sống văn hóa, song trong đó vẫn chưa để cập đến những giá trị văn hóa. Đồng thời, cách diễn đạt như thể chưa làm rõ được bản chất của đời sống văn hóa vì chỉ nêu các yếu tố cấu thành ở thể biệt lập. Nguyễn Hữu Thức trong công trình “Một số kinh nghiệm. quản lý và hoạt động tư tưởng ~ văn hóa” đưa ra một quan niệm khác: Đời sống văn hóa được hiểu một cách khái quát là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống đề duy trì, đồng thời tái tạo sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo.
những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng. cao chất lượng sống của chính con người [37, tr.35], Trong cuốn “Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng”, các nhà khoa học khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa ~ Hoe viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đưa ra quan niệm: Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, mà đời sống xã hội là một phức thể các hoạt động sống của con người, nhằm đáp. ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nó. Nhu cầu vật chất được.
đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể, còn nhu cầu tỉnh thần thì giúp cho con người tồn tại như một sinh thể xã hội, tức là một nhân cách văn hóa [27, tr434] Tiếp cận theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lĩnh vực văn hóa có thê được hiểu như sau: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cần chú ý, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Nhưng văn hóa là một kiến trúc thượng tằng” (Báo cứu quốc, số ra ngày 8/10/1945). Bởi vì Người cho rằng phải xây dựng kinh tế, xây dựng, cơ sở hạ tầng thì mới có nền tảng, có điều kiện để xây dựng và phát triển văn hóa. Người cho rằng: Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn.
Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ ta có. câu: Có thực mới vực được đạo; vì thế kinh tế phải đi trước. Nhưng, phát triển để làm gì? Phát triển kinh tế và văn hóa để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ta [32, tr. Từ quan niệm này, có thê thấy rằng Người coi đời sống văn hóa là đời sống tỉnh thần.
Trong nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Đảng cộng sản 'Việt Nam cũng cho rằng: “Văn hóa là nền tảng tỉnh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đây sự phát triển kinh tế, xã hội” [16, tr44] Điều này cũng được khẳng định trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng: “Xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa để văn hóa thực sự là nền tảng tỉnh thần của xã hội, là động lực phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc té” [16, tr.56]} Từ cách hiểu trên đây về đời sống văn hóa và các lĩnh vực văn hóa, trong phạm vi, yêu cầu của đề tài nghiên cứu, p thu và phát triển quan niệm. của giáo s Hoàng Vinh, có thể đưa ra quan niệm như sau: Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, là phức thể những hoạt động của con người trong sáng tạo, lưu giữ và hưởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần nhằm nâng cao chất lượng sống của con người và xã hội. Đời sống văn hóa bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (Các sản phẩm văn hóa. vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó).
Hay nói cách khác, đời sống văn hóa là một bức tranh hiện thực sống. động các hoạt động của con người với sự hỗ trợ của các thiết chế văn hóa và sản phẩm văn hóa nhằm sáng tạo, hưởng thụ và lưu giữ, phát huy các giá trị văn hóa kết tỉnh trong những sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể, nâng, cao chất lượng sống của con người. Cấu trúc của đời sống vẫn hóa. 'Có thể nhận thấy đời sống văn hóa không phải là số cộng của các sản.
phẩm văn hóa, các năng lực văn hóa của con người cũng như số cộng của các yếu tố văn hóa trong những nhóm người riêng lẻ.