Luận văn thạc sĩ văn hóa học biến đổi văn hóa truyền thống làng bầu trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và đô thị hóa xã kim chung huyện đông anh thành phố hà nội

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu biến đổi văn hóa truyền thống làng bầu Xã Kim Chung, Đông Anh, Hà Nội trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa.

Chuyên ngành

Văn Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

179
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Khám phá văn hóa làng Bầu trước làn sóng công nghiệp hóa

Làng Bầu, với tên cổ là Thiên Biều, là một làng cổ ven đô thuộc xã Kim Chung, huyện Đông Anh, cách trung tâm Hà Nội khoảng 15km. Nơi đây mang trong mình những giá trị văn hóa làng nghề truyền thống đặc trưng của châu thổ sông Hồng. Trước khi chịu tác động của công nghiệp hóa, đời sống kinh tế - xã hội của làng Bầu chủ yếu dựa vào nông nghiệp với các hoạt động trồng lúa, chăn nuôi và một số nghề thủ công phụ. Cấu trúc làng xã được tổ chức chặt chẽ thông qua các thiết chế văn hóa làng xã như giáp, phường hội, và hội đồng kỳ mục, tạo nên một cộng đồng có tính cố kết cao. Bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện rõ nét qua hệ thống di sản văn hóa vật thể như đình, đền, nhà thờ họ và di sản văn hóa phi vật thể bao gồm các lễ hội truyền thống Đông Anh, tín ngưỡng và phong tục tập quán độc đáo. Đây là nền tảng giá trị cốt lõi đã định hình nên con người và diện mạo của làng Bầu qua hàng trăm năm lịch sử, trước khi bước vào giai đoạn biến đổi sâu sắc do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa.

1.1. Di sản văn hóa vật thể Đình đền và kiến trúc cổ

Hệ thống di sản văn hóa vật thể của làng Bầu là minh chứng sống động cho một lịch sử lâu đời. Nổi bật nhất là đình Bầu, nơi thờ ba vị thành hoàng là Cao Sơn Đại Vương, Linh Sơn Đại Vương và Tam Sơn Đại Vương. Ngôi đình là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng và văn hóa của cả cộng đồng. Bên cạnh đó, đền Bầu thờ công chúa Tiên Dung cũng là một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc. Các nhà thờ họ lớn như họ Lê, họ Trần cũng được xây dựng khang trang, là nơi con cháu hướng về cội nguồn. Kiến trúc nhà ở truyền thống chủ yếu là nhà gỗ, nhà tre, phản ánh nếp sống nông nghiệp. Không gian làng được bao bọc bởi lũy tre, có cổng làng, cây đa, giếng nước, tạo nên một cảnh quan bình dị, điển hình của làng quê Bắc Bộ.

1.2. Đời sống văn hóa tinh thần Lễ hội và phong tục xưa

Đời sống văn hóa tinh thần của người dân làng Bầu vô cùng phong phú, xoay quanh các hoạt động tín ngưỡng và lễ hội. Lễ hội truyền thống Đông Anh tại làng Bầu diễn ra vào ngày mùng 8 tháng Giêng hàng năm, với nghi thức độc đáo nhất là rước thuyền Tiên chúa. Ngoài ra, các phong tục như khao vọng khi có người đỗ đạt, thăng quan hay lên lão; các nghi lễ vòng đời như cưới hỏi, tang ma đều được tổ chức theo lệ làng. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thờ Thành hoàng làng là hai trụ cột tinh thần, củng cố mối quan hệ gia đình, dòng họ và cộng đồng. Những giá trị này đã tạo nên một nếp sống hài hòa, trật tự và giàu bản sắc.

II. Phân tích tác động của công nghiệp hóa đến văn hóa làng Bầu

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đặc biệt là sự hình thành Khu công nghiệp Bắc Thăng Long từ năm 2001 đã tạo ra một cuộc biến đổi văn hóa làng xã sâu rộng tại làng Bầu. Luận văn của Nguyễn Thị Hảo (2015) chỉ rõ, đây là một quá trình tất yếu, mang lại cả những tác động tích cực và tiêu cực. Về mặt tích cực, kinh tế phát triển, đời sống vật chất của người dân được nâng cao rõ rệt. Tuy nhiên, mặt trái của nó là sự phá vỡ cấu trúc làng xã truyền thống. Ảnh hưởng của đô thị hóa và kinh tế thị trường đã làm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp, dẫn đến thay đổi cấu trúc xã hội. Dân số cơ học tăng nhanh với sự xuất hiện của hàng ngàn công nhân ngoại tỉnh đã tạo ra một môi trường giao thoa văn hóa phức tạp. Các giá trị truyền thống phải đối mặt với thách thức từ lối sống hiện đại, dẫn đến nguy cơ mai một và nảy sinh những xung đột giá trị văn hóa giữa các thế hệ.

2.1. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hệ lụy xã hội

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là biểu hiện rõ nét nhất. Người dân làng Bầu dần từ bỏ ruộng vườn để chuyển sang làm công nhân hoặc kinh doanh dịch vụ phục vụ khu công nghiệp. Sự thay đổi này kéo theo sự phá vỡ cấu trúc gia đình truyền thống, khi các thành viên không còn làm việc chung trên một mảnh ruộng. Mối quan hệ láng giềng, vốn dựa trên nền tảng nông nghiệp, cũng trở nên lỏng lẻo hơn. Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt, tạo ra những áp lực mới lên cấu trúc xã hội vốn có.

2.2. Áp lực từ đô thị hóa ven đô Hà Nội lên không gian sống

Quá trình đô thị hóa ven đô Hà Nội đã biến làng Bầu từ một làng nông nghiệp thuần túy thành một khu vực bán đô thị. Đất nông nghiệp bị thu hẹp, nhường chỗ cho nhà máy và các khu nhà trọ. Không gian làng cổ với ao hồ, lũy tre dần biến mất. Mật độ dân số tăng cao gây áp lực nặng nề lên cơ sở hạ tầng và môi trường. Sự thay đổi về không gian sống cũng chính là sự thay đổi về không gian văn hóa, làm phai nhạt đi những ký ức và giá trị gắn liền với cảnh quan làng xã truyền thống.

III. Thực trạng biến đổi văn hóa vật thể tại làng Bầu Đông Anh

Sự biến đổi văn hóa làng xã tại Bầu được thể hiện một cách trực quan nhất qua những thay đổi của hệ thống văn hóa vật thể. Diện mạo kiến trúc và cảnh quan của làng đã có sự thay đổi ngoạn mục. Những ngôi nhà mái ngói 3 gian, 5 gian truyền thống dần được thay thế bằng những ngôi nhà tầng kiên cố, hiện đại. Đường làng ngõ xóm được bê tông hóa, mở rộng. Tuy nhiên, sự phát triển tự phát cũng làm mất đi quy hoạch và cấu trúc không gian cổ xưa. Các di tích lịch sử như đình, đền dù được quan tâm tu bổ nhưng cũng đối mặt với nguy cơ bị "hiện đại hóa", làm mất đi nét cổ kính vốn có. Quá trình bảo tồn di sản văn hóa vật thể trong bối cảnh này đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi sự cân bằng giữa phát triển và gìn giữ, để các công trình không chỉ là những khối kiến trúc vô hồn mà vẫn là trung tâm của đời sống văn hóa tinh thần cộng đồng.

3.1. Biến đổi không gian kiến trúc và cảnh quan làng xóm

Không gian làng Bầu đã không còn giữ được nét đặc trưng xưa. Cổng làng cũ không còn, lũy tre xanh bị chặt phá để xây dựng nhà cửa, nhà trọ. Các ao, hồ, đầm – vốn là không gian sinh hoạt chung và điều hòa không khí – đã bị san lấp. Thay vào đó là những dãy nhà san sát, những con ngõ nhỏ và sâu. Sự thay đổi này phá vỡ cảnh quan yên bình, làm mất đi sự kết nối hài hòa giữa con người và thiên nhiên vốn là một phần quan trọng trong bản sắc văn hóa dân tộc của làng quê Việt Nam.

3.2. Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống di tích

Công tác bảo tồn di sản văn hóa tại làng Bầu có những điểm sáng khi đình và đền được nhân dân đóng góp tu bổ, tôn tạo. Điều này cho thấy ý thức trân trọng quá khứ của cộng đồng. Tuy nhiên, việc tu bổ đôi khi sử dụng vật liệu và phong cách kiến trúc hiện đại, làm giảm đi giá trị cổ vật của di tích. Việc quản lý và khai thác giá trị di tích để phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển du lịch văn hóa vẫn còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của các công trình này.

IV. Cách tiếp biến văn hóa phi vật thể đang diễn ra tại làng Bầu

Nếu như thay đổi về văn hóa vật thể có thể nhìn thấy bằng mắt thường, thì sự biến đổi văn hóa phi vật thể lại diễn ra âm thầm nhưng sâu sắc hơn. Đây là quá trình tiếp biến văn hóa phức tạp, nơi các yếu tố văn hóa mới du nhập và tương tác với các giá trị truyền thống. Lễ hội truyền thống Đông Anh tại làng Bầu vẫn được duy trì nhưng hình thức và quy mô có nhiều thay đổi. Một số nghi lễ bị giản lược, trong khi các hoạt động vui chơi giải trí hiện đại lại được thêm vào, có xu hướng thương mại hóa. Các phong tục tập quán trong cưới hỏi, tang ma cũng được đơn giản hóa để phù hợp với nhịp sống công nghiệp. Mối quan hệ trong gia đình và xã hội cũng biến đổi, đề cao tính cá nhân hơn, làm suy giảm tính cộng đồng. Quá trình này đặt ra câu hỏi lớn về việc làm thế nào để giữ gìn linh hồn, cốt lõi của văn hóa phi vật thể trong một xã hội đang thay đổi từng ngày.

4.1. Sự thay đổi trong lễ hội và các lễ thức thờ cúng

Lễ hội làng Bầu ngày nay tuy đông vui hơn nhưng không còn giữ được không khí trang nghiêm, linh thiêng như xưa. Trích dẫn từ luận văn cho thấy, Trằm Bầu xưa không còn, nên nghi thức thả thuyền rồng chỉ mang tính biểu trưng trong một hồ nước nhân tạo. Các trò chơi dân gian truyền thống ít dần, thay vào đó là các dịch vụ giải trí thương mại. Các lễ thức thờ cúng trong gia đình cũng có xu hướng đơn giản hóa về lễ vật và nghi thức, chủ yếu tập trung vào những ngày lễ lớn như Tết Nguyên Đán.

4.2. Biến đổi trong quan hệ gia đình và cấu trúc xã hội

Mô hình gia đình hạt nhân (hai thế hệ) đang dần thay thế cho gia đình truyền thống (tam, tứ đại đồng đường). Quyền quyết định của người cha, người chồng trong gia đình giảm bớt, vai trò của người phụ nữ được đề cao hơn. Trong quan hệ xã hội, sự gắn kết dựa trên huyết thống và địa vực (dòng họ, xóm giềng) suy yếu, nhường chỗ cho các mối quan hệ xã hội dựa trên công việc và lợi ích kinh tế. Đây là một biểu hiện của sự thay đổi cấu trúc xã hội từ truyền thống sang hiện đại.

V. Hướng đi nào cho việc bảo tồn văn hóa làng Bầu bền vững

Trước thực trạng biến đổi văn hóa truyền thống làng Bầu, việc tìm ra giải pháp để phát triển kinh tế đi đôi với bảo tồn di sản văn hóa là một nhiệm vụ cấp thiết. Luận văn đã đề xuất một số phương hướng mang tính chiến lược. Trước hết, cần nâng cao nhận thức của cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ, về giá trị của di sản văn hóa. Chính quyền địa phương cần có những quy hoạch cụ thể để bảo vệ không gian kiến trúc cổ và các di tích, tránh sự phát triển tự phát, phá vỡ cảnh quan. Cần phục dựng và tổ chức các lễ hội truyền thống Đông Anh một cách bài bản, giảm thiểu yếu tố thương mại hóa, chú trọng vào việc tái hiện các giá trị văn hóa cốt lõi. Việc xây dựng và điều chỉnh hương ước làng Bầu cho phù hợp với bối cảnh mới cũng là một giải pháp quan trọng để duy trì trật tự và các giá trị đạo đức trong cộng đồng.

5.1. Nâng cao vai trò của cộng đồng và thiết chế văn hóa làng xã

Giải pháp căn cơ nhất nằm ở chính cộng đồng. Cần phát huy vai trò của các thiết chế văn hóa làng xã như hội người cao tuổi, ban quản lý di tích, các dòng họ trong việc gìn giữ và trao truyền văn hóa. Tổ chức các buổi sinh hoạt, nói chuyện chuyên đề về lịch sử, văn hóa làng; khôi phục các phường hội nghề thủ công, các đội tế lễ, các câu lạc bộ văn nghệ dân gian. Khi mỗi người dân trở thành một chủ thể tích cực trong việc bảo tồn, bản sắc văn hóa dân tộc mới có thể được gìn giữ một cách bền vững.

5.2. Kết hợp bảo tồn di sản với phát triển kinh tế xã hội

Việc bảo tồn di sản văn hóa không nên tách rời khỏi đời sống kinh tế. Cần có chính sách hỗ trợ để biến các giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển, ví dụ như xây dựng mô hình du lịch văn hóa cộng đồng. Du khách có thể đến tham quan di tích, tìm hiểu phong tục, trải nghiệm lễ hội và mua sắm các sản phẩm địa phương. Hướng đi này không chỉ tạo ra sinh kế cho người dân mà còn thúc đẩy họ có ý thức trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ và quảng bá chính di sản của quê hương mình.

14/08/2025
Luận văn thạc sĩ văn hóa học biến đổi văn hóa truyền thống làng bầu trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và đô thị hóa xã kim chung huyện đông anh thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CO SG LY LUAN VE BIEN DOL VAN HOA TRUYEN THONG VA TONG QUAN VE VAN HOA TRUYEN THONG LANG BAU 1. Cơ sở lý luận về biến đỗi văn hóa truyền thống 1. Khái niệm biến đỗi văn hóa truyền thống Biến đổi văn hóa được coi là quá trình vận động của mọi xã hội và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong đó có nhân học. Nhân học nghiên cứu biến đôi văn hóa tập trung nhiều vào việc so sánh sự giao lưu văn hóa.

Trong lịch sử phát triển của nhân loại trên thế giới đã trải qua những, tranh luận về học thuật gắn liền với những học thuyết như: thuyết tiến hóa văn hóa của Edward B, Tylor (1871), thuyết truyền bá văn hóa của G. Elliot Smith (1919), thuyết vùng văn hóa của C. Ngày nay dưới tác động của CNH, HĐH và ĐTH cũng như quá trình toàn cầu hóa, biến đổi văn hóa đã được nhiều nhà Nhân học để cập nhiều trong các công trình nghiên cứu. Quá trình toàn cầu hóa được các nhà nhân học nhìn nhận như những dòng chảy văn hóa, trong đó yếu tố kinh tế, chính trị, thể chế định hình hoặc bị định hình bởi những dòng chảy này (Edelman Mare, Angelique Haugerud, 2004).

Các nhà nhân học cho rằng, dòng chảy văn hóa đã có những tác đông không nhỏ đến kinh tế và chính trị của các quốc gia trong quá trình toàn cầu hóa. Do đó, các khái niệm: dòng chảy văn hóa, sự tương tác văn hóa, xung đột hay va chạm văn hóa. đã được các nhà nhân học như Kearney, Arjun Appadurai và Anna Tsing đặt vào trọng tâm nghiên cứu về biến đổi văn hóa. Ngày nay, biến đổi văn hóa đã được đề cập đến như một vấn đề trọng tâm của các khoa học xã hội.

Trên nền tảng hệ thống lý thuyết mang tính khái quát hóa cao nêu trên; cùng với bối cảnh CNH, HĐ và ĐTH đang diễn ra hết 16 sức nhanh mạnh ở nước ta, rất nhiều các công trình nghiên cứu đã được triển khai tạo tiền đề cho việc xây dựng khung lý thuyết chung làm nền tảng lý luận cho các nghiên cứu thực địa sau này. Trong các tiếp cân về biến đổi văn hóa tại các cộng đồng nông thôn trong quá trình CNH, HĐH và ĐTH nỗi lên cách tiếp cận coi tiến trình biến đổi văn hóa phụ thuộc vào các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội. Theo đó, biến đổi văn hóa là sự thay đổi so với một tình trạng. văn hoá hoặc một nền văn hoá có trước dưới tác động của những nhân tố chính trị - kinh tế - xã hội.

Chúng ta có thê kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả như Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang, Nguyễn Thị Phương Châm và nhiều tác giả khác. Bàn về biến đổi văn hóa, tác giả Nguyễn Duy Bắc trong công trình Sự. biến đổi các giá trị văn hóa trong bồi cánh xây dựng nên kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay đã có cái nhìn tổng quát về hiện tượng này như sau: Có nhiều cách quan niệm vẻ sự biến đổi văn hóa. Một cách hiểu.

rộng nhất, đó là một sự thay đối so sánh với một tình trạng văn hóa. hoặc một nền văn hóa có trước dưới tác động của những nhân tổ chính trị - kinh xã hội. Trong một phạm vi hẹp hơn, người ta cho rằng sự biến đổi văn hóa được đề cập đến là sự biển đổi về cấu trúc của văn hóa, về các thành tố của văn hóa và các giá trị văn hóa. Và sự biến đổi này ảnh hưởng sâu sắc đến phần lớn các thành viên của một xã hội [4, tr.

Cuốn sách Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay của Nguyễn Thi Phương Châm là một trong số những công trình nghiên cứu vẻ chủ đề này. Công trình đã khái quát được hằu hết các quan điểm về biến đôi xã hội, biến đôi văn hoá của các học giả nước ngoài trong thời gian gần đây. Ngoài các thuyết như: thuyết Tiến hóa văn hóa, thuyết Vùng văn hóa, thuyết Tiếp biến Chức năng. công trình này còn nhắc đến tác giả Louise 1? S.Spindler với quan điểm nghiên cứu biến đổi văn hóa ở “ba cáp độ phân tích (văn hóa, xã hội, cá nhân) trong quá trình biển đổi đa dạng, trong đó quan tâm đến những tác nhân gây ra sự biến đổi nhìn từ trong và ngoài hệ thống.

Tỉnh biển đổi song hành cùng với tính bằn bỉ của văn hóa” [4, tr. Đây có thể coi là một trong những nghiên cứu điển hình về biến đôi của các làng quê trong bối cảnh CNH, HĐH và ĐTH ở nước ta hiện nay. Các phương diện biến déi văn hóa truyền thắng 'Vận dụng các lý thuyết về biến đôi văn hóa vào nghiên cứu biến đổi văn hóa truyền thống ling Bau chính là quá trình biến đổi các thành tố văn hóa làng trên cả hai phương diện văn hóa vật thể và văn hoá phi vật thể dưới tác động của quá trình CNH, HĐH và ĐTH nông thôn. Trong xu thé phát triển hiện nay văn hóa truyền thống ở các làng quê nói chung, làng Bầu nói riêng đã có những.

biến đổi rõ rệt, thâm chí có những làng có bước phát triển vượt trội hơn so với những giai đoạn trước đó. Biến đổi văn hóa truyền thống ở một góc độ nào đó là một biểu hiện của yếu tổ tích cực đến đời sống cộng đồng cư dân trong làng (đời sống nhân dân được nâng cao, các di tích lịch sử văn hóa trong làng được tu bổ, nhà cửa được xây mới khang trang hơn, hoạt động chuyên môn hóa được đưa vào sản xuất, các phong tục tập quán được gìn giữ và phát huy, những hủ tục không còn phù hợp được loại bỏ. Tuy nhiên bên cạnh yếu tổ tích cực cũng có những mặt hạn chế ảnh hưởng tới văn hóa truyền thống như: mỗi quan hệ ứng xử giữa cộng đồng cư dân làng và xuất phát từ yếu tố thương mại trong buôn bán các sản phẩm hàng hóa dịch vụ trong làng, Để áp dụng nghiên cứu biến đổi văn hóa truyền thống làng Bau, tac gid luận văn nghiên cứu theo hai phương diện: biến đôi văn hóa vật thê và biến đôi văn hóa phi vật thê. Trên phương diện biến đôi van héa vat thé lang Bau tác giả luận văn chủ yếu xem xét ở các khía cạnh: biến đôi cơ sở hạ tầng, không gian cảnh quan kiến trúc làng xóm nhà ở, các công trình dân dụng: 18 trường học, nhà trẻ, bưu điện, trạm y tế.

Bên cạnh đó là biến đổi trong hệ thống di tích và cơ sở thờ tự: chủ yếu là đình làng, đền Bằu và một số nhà thờ. Về biến đổi văn hóa phi vật thể được xem xét chủ yếu: các lễ thức thờ. cúng trong năm, lễ hội truyền thống của làng biến đổi trong quy mô, cấu trúc, đối tượng và các phương diện thực hành nghỉ lễ; biến đổi trong các phong tục tập quán tiêu biểu của làng: tục khao vọng, trong đám cưới, đám tang. bên cạnh đó là biến đổi trong quan hệ gia đình và xã hội.

Trong trường hợp cụ thể luận văn không đi sâu vào các thành tố mà chủ yếu lựa chọn một số thành tố tiêu biểu dé nhận điện biến đổi văn hóa truyền thống làng Bằu. Béi cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa 'Công nghiệp hoá, hiện đại hóa và đô thi hoá là xu hướng toàn cầu, không, chỉ đang diễn ra ở một quốc gia phát triển mà nó đã trở thành xu thế mạnh mẽ ở. tắt cả quốc gia không kể giàu nghèo, nước phát triển hay nước đang phát triển, ở. châu Âu hay châu Á.

Quá trình đô thị hoá thấy rõ nhất là tại các thành phố của bắt kì quốc gia nào. Hà Nội của chúng ta cũng không ngoai lệ. Sự thay đổi diễn ra từng ngày từng giờ đem đến cho Hà Nội cơ hội để trở thành một thành phố phổn vinh. Quá trình mở rộng thành phố cho khu công nghiệp hay khu đô thị mới đã khiến thủ đô có một diện mạo mới, những cũng ảnh hưởng không nhỏ đến một bộ phận người nông dân nằm trong điện quy hoạch CNH, HDH va DTH là một quá trình có tình chat lịch sử.

Tất cả các nước công nghiệp phát triển đều phải trải qua quá trình CNH, HĐH ở các thời điểm khác nhau với những qui mô tốc độ khác nhau và trong từng giai đoạn phát triển của nền sản xuất xã hội có ý nghĩa to lớn cả vẻ lí luận và thực tiễn. Công nghiệp hoá không phải chỉ là phát triển nền công nghiệp, mà là phát triển mọi lĩnh vực từ sản xuất vật chất và dịch vụ của nền kinh tế, cho đến các khâu trang thiết bị, phương pháp quản lý, tác phong lao động, kỹ năng sản xuất. 19 'CNH, HĐH cũng không có nghĩa chỉ là đưa khoa học - công nghệ - kỹ thuật thông tin - vi điện tử hiện đại vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế, mà là quá trình vận dựng tất cả những phương tiện đó vào tông thê hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội, nó đòi hỏi phải thực hiện cách mạng công nghệ trong các cơ. cấu kinh tế - xã hội một cách hợp lý, cân đối, tạo lập cơ chế quản lý xã hội ở.

trình độ chuyên môn cao với phương pháp quản lý hiện đại. 'CNH, HĐH phải hoàn thiện cơ cấu - tô chức - vận hành xã hội, chuyên môn hoá chức năng ngày càng sâu của các thể chế, nâng cao chất lượng các phương tiện thông tin đại chúng và chất lượng sống: dân chủ hoá đời sống xã hội trong khuôn khổ một Nhà nước pháp quyền, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và dân đức thông qua việc phát triển nền giáo dục quốc gia. Như vậy, quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, thực chất tự bản thân nó chính là một quá trình biến mọi hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội đặc biệt là hoạt đông sản xuất tỉnh thần và đời sống văn hóa từng bước lên trình độ tiên tiến và hiện đại. CNH, HDH va cùng với nó là ĐTH trở thành xu thé chung của mọi quá trình chuyển từ nền văn minh nông nghiệp lên nền văn minh công nghiệp.

Vấn đề quan trọng đặt ra là làm gì và bằng cách nào để phát huy tối đa mặt tích cực của đô thị hoá, đồng thời hạn chế và đi đến thủ tiêu mặt tiêu cực của nó. Điều này cũng đồng nghiã với việc quá trình đô thị hoá phải gắn liền với khái niệm “Phát triển bền vững”. Như vậy, ĐTH phải vừa thúc đẩy sự phát triển kinh tế, vừa phải đảm bảo môi trường tự nhiên, xã hội trong lành, sự công bằng và tiến bộ xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ