Chương 1: MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE CHÍNH SÁCH GIAM NGHÈO 1.1 Các khái niệm liên quan Luật Báo chí được Quốc hội khóa XIII, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (kỳ họp thứ 11) thông qua ngày 5-4-2016, khẳng định: Báo chí Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thé hiện băng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử. Truyén thong Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tao sự liên kết lẫn nhau dé dẫn tới sự thay đổi trong hành vi va nhận thức. Báo in Báo in là loại hình báo chí sử dung chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bang phương tiện in dé phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in. Phát thanh (báo nói) Theo Luật Báo chí, phát thanh (báo nói) là một loại hình báo chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau.
Truyền hình (báo hình) Theo Luật Báo chí (2016), báo hình là loại hình báo chí sử dụng hình ảnh là chủ yếu, kết hợp tiếng nói, âm thanh, chữ viết, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau. Báo điện tử Theo Điều 3, Luật Báo chí (2016): Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử. 17 Báo điện tử là loại hình báo viết được xây dựng theo hình thức một trang web và phát hành dựa trên nên tảng Internet. Báo điện tử được tòa soạn điện tử xuất bản, còn người đọc báo dựa trên máy tính, thiết bị cá nhân như máy tính bảng, điện thoại di động trung cao cấp.
có kết nối internet. Doi nghèo Đói nghèo là một vấn đề mang tính chất toàn cầu, và đang thu hút nỗ lực chung của cả cộng đồng quốc tế nhằm từng bước xóa bỏ đói nghèo và nâng cao phúc lợi người dân. Tuy nhiên, rất khó có thể đưa ra một khái niệm chung, thống nhất về thế nào là đói nghèo. Quan niệm về đói nghèo chỉ mang tính chất tương đối bởi nó phụ thộc vào điều kiện không gian, địa lý, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, từng địa phương, từng quốc gia.
Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực Châu A- Thái Bình Dương do ESCAP tô chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9-1993 đã đưa ra khái niệm và định nghĩa về nghèo đói. Theo Hội nghị, “Nghéo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cẩu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận thùy theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục tập quán của các địa phương ”. Chuyên gia hàng đầu Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) - ông Abapia Sen, người được giải thưởng Noben về kinh tế (năm 1998), cho rang “Nghéo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng”. Xóa đói giảm nghèo XDGN là một mục tiêu trọng yếu, mang bản chất cách mạng vì dân của Đảng Cộng sản Việt Nam, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Đảng ta là đạo đức, là văn minh, là thống nhất, độc lập, là hòa bình, ấn no”.
(Trong bài phát biểu nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 3-2-1930 - 3-2- 1960), nằm trong tông thể mục tiêu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. XDGN là chủ trương lớn của Dang và Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chat và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển 18 giữa các vùng, địa ban và giữa các dân tộc, nhóm dân cư. nhằm phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam.2 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về XĐGN và những thành tựu đạt được 1.1 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Ở Việt Nam, việc XDGN đang hướng tới thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Đây là vấn đề liên quan tới công bang, binh dang, ồn định chính trị, đảm bảo an sinh xã hội.
Van dé này được khang định trong nhiều văn kiện của Dang, trở thành hệ thống quan điểm lãnh đạo, chi đạo xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Đảng ta đã có cách nhìn ngày càng toàn diện và đưa ra những chủ trương, biện pháp thiết thực dé XĐGN, hạn chế phân hoá giàu nghèo trên cơ sở tiễn hành đồng bộ các giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng gắn liền với phát triển văn hoá - xã hội; chú trọng đây mạnh thực hiện tiến bộ, công băng xã hội, bảo đảm an sinh, tăng cường trợ giúp đối tượng yếu thế; tập trung triển khai hiệu quả các chương trình kinh tế - xã hội, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoa, | trong 6 nhiệm vụ đầu tiên của Chính phủ mới là “diệt giặc đói.” Từ đó đến nay, Đảng, Nhà nước luôn coi trọng công tác XDGN nhằm hướng đến mục tiêu phát triển bền vững. Nhiều Nghị quyết, văn bản nhằm cu thé hóa việc thực hiện chủ trương, chính sách giảm nghẻo được triển khai, nồi bật là: + Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo.
+ Quyết định số 133/1998/QD-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia XDGN giai đoạn 1998 — 2000”, gồm cả công tác định canh, định cư và hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn, nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi, phù hợp để hỗ trợ người nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập, XDGN. Năm 2006, Việt Nam đã tuyên bố hoàn thành “Mục tiêu phát triển Thiên niên ky (MDGs) về xóa nghèo”, về đích trước gần 10 năm so với thời hạn 2015. 19 Đặc biệt, ngày 2-2-2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1722/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020. Sau đó, Ban Chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 đã được thành lập từ Trung ương đến địa phương dé tổ chức thực hiện.
Nguồn lực được bố tri, huy động dé thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 hơn 93. Chính phủ đã chỉ đạo ban hành các chính sách giảm nghèo chung hỗ trợ toàn diện cho người nghèo, như: hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho hộ nghèo, hộ cận nghèo; bảo đảm mọi người thuộc diện hộ nghèo đều có cơ hội tiếp cận với dịch vụ khám chữa bệnh thông qua bảo hiểm y tế; nâng cao tỷ lệ trẻ em nghèo được đến trường thông qua miễn giảm học phí. và các hỗ trợ về nhà ở, nước sạch và vệ sinh, dạy nghề, lao động và việc làm, trợ giúp pháp lý, trợ giúp xã hội, vay vốn tín dụng ưu đãi; giải quyết đất ở, đất sản xuất, giao rừng.2 Những thành tựu đạt được Trong bài viết “XDGN: Thành tựu ấn tượng sau 30 năm đổi mới” trên báo Vietnamplus, cho chúng ta thấy rõ: Trong hơn ba thập kỷ vừa qua (từ khi đất nước đổi mới năm 1986), XĐGN luôn là lĩnh vực đạt được nhiều thành công ấn tượng trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam. Quyết tâm vươn lên thoát khỏi đói nghèo không chỉ là ý chí của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương mà đã trở thành suy nghĩ của từng hộ nghèo.
Tỷ lệ nghèo (tính theo chỉ tiêu thu nhập) đã giảm mạnh từ 57% (năm 1990) xuống còn 13,5% (năm 2014). Năm 2006, Việt Nam đã tuyên bố hoàn thành Mục tiêu phát triển Thiên niên ky (MDGs) về về xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói, về đích trước 10 năm so với thời hạn (năm 2015). Năm 2015, Chính phủ Việt Nam đã ban hành chuẩn nghèo đa chiều áp dung cho giai đoạn 2016 - 2020, đánh dấu bước quan trọng trong quá trình chuyền đổi của Việt Nam từ đo lường nghèo theo thu nhập sang đo lường đa chiều. Theo đó, xác định chuân nghèo mới thay thế cho chuẩn nghèo cũ với các tiêu chí thoát nghèo cao hơn.
Chuan nghèo xác định theo các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ ban, gôm: y tê, giáo dục, nha ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin. 20 Những chỉ tiêu này xác định mục tiêu giảm nghèo một cách bền vững, bởi nguy cơ đói nghèo, tái nghèo đều có thé xảy ra trong những biến cố của môi trường thiên nhiên, thiên tai, dịch bệnh, của quá trình hội nhập và phát trién. Việt Nam đã trở thành một trong SỐ những nước di đầu ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương trong áp dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều để giảm nghéo ở tat cả các chiều cạnh. Trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (2016 - 2020), Việt Nam đã đặt mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo da chiều bình quân cả nước là 1 - 1,5%/nam và riêng các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn giảm 4%/năm.
Đề nâng cao hiệu quả của chính sách, Quốc hội và Chính phủ đã gộp tất cả các chương trình XDGN lại thành một chương trình là “Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020”. Trong đó bao gồm 5 dự án thành phan, là: Chương trình 30a (giảm nghèo nhanh và bền vững cho các huyện nghèo); Chương trình 135 (Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đân tộc thiểu số và miền nui); Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo trên địa bàn các xã ngoài Chương trình 30a và Chương trình 135; Truyền thông và giảm nghéo về thông tin; Nang cao năng lực và giám sát, đánh giá thực hiện chương trình. [43] Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2016 - 2020 diễn ra trong bối cảnh mới gắn liền với việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011 - 2020) và kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội (2016 - 2020), đây là giai đoạn cuối hoàn thành chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm.