Tổng quan nghiên cứu

Kể từ thời điểm thực dân Pháp nổ tiếng súng xâm lược đầu tiên tại bán đảo Sơn Trà vào năm 1858 đến khi phong trào Cần vương chính thức khép lại vào năm 1896, lịch sử dân tộc Việt Nam đã trải qua gần 4 thập kỷ đầy biến động. Suốt hơn 80 năm dưới ách cai trị của chủ nghĩa thực dân, dòng văn học yêu nước và cách mạng đã hình thành một tiến trình liên tục, trong đó giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX giữ vị trí mở đầu mang tính bước ngoặt lịch sử. Trước đây, nhiều công trình nghiên cứu trong hoàn cảnh thời chiến thường nhìn nhận giai đoạn này qua hệ quy chiếu chính trị đơn thuần hoặc khảo tả rời rạc từng tác giả, khiến diện mạo thẩm mỹ và chiều sâu tư tưởng của toàn bộ trào lưu chưa được soi chiếu một cách toàn diện.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: tái hiện chân thực quy luật hình thành, sự vận động nội tại và diện mạo tổng thể của văn học yêu nước giai đoạn 1858 đến 1900 trong truyền thống văn học dân tộc. Mục tiêu cụ thể là làm rõ phản ứng văn chương trước một kẻ thù hoàn toàn mới đến từ phương Tây, phân tích sự chuyển dịch từ ý thức hệ Nho giáo phong kiến sang tinh thần dân tộc và nhân dân hóa, đồng thời xác lập vị trí giao thời bản lề giữa văn học trung đại và cận đại.

Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian 3 miền Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ với các trung tâm kháng chiến tiêu biểu trong suốt 42 năm lịch sử. Về mặt ý nghĩa, nghiên cứu tiến hành khảo sát hàng chục văn bản gốc và di cảo Hán Nôm, cung cấp cái nhìn công bằng, khách quan về một giai đoạn lịch sử đau thương nhưng hào hùng, góp phần khôi phục những giá trị tinh thần thiêng liêng đang đứng trước nguy cơ mai một trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích mối quan hệ biện chứng giữa biến động cấu trúc xã hội thuộc địa nửa phong kiến với đời sống văn học dân tộc. Đồng thời, công trình kết hợp lý thuyết loại hình học tác giả văn học trung cận đại nhằm lý giải sự chuyển biến căn bản của đội ngũ nho sĩ truyền thống thành những sĩ phu - chiến sĩ lãnh tụ kháng chiến. Mô hình nghiên cứu được xây dựng trên trục vận động nội tại của tư tưởng yêu nước: chuyển từ ý thức hệ trung quân phong kiến sang tinh thần ái quốc thương dân, gắn liền với quá trình nhận thức bản chất xâm lược của chủ nghĩa tư bản công nghiệp phương Tây.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được xác lập chặt chẽ, bao gồm: chủ nghĩa yêu nước truyền thống, ý thức hệ Nho giáo dân tộc hóa, sĩ phu Cần vương và tiến trình đại chúng hóa ngôn ngữ văn chương bác học.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu khảo sát được thu thập từ kho lưu trữ sách Hán Nôm của Thư viện Quốc gia Hà Nội, Viện Văn học, Viện Sử học, cùng các bộ tổng tập và hợp tuyển xuất bản từ năm 1952 đến năm 2002. Công trình sử dụng phương pháp nghiên cứu văn học sử kết hợp xã hội học lịch sử nhằm đặt từng hiện tượng tác giả và tác phẩm vào đúng tọa độ của hoàn cảnh thời đại. Phương pháp so sánh đối chiếu liên vùng được triển khai giữa 3 miền địa - văn hóa, đồng thời đối sánh cảm hứng yêu nước của giai đoạn này với văn học yêu nước thời trung đại trước năm 1858 và văn học cách mạng đầu thế kỷ XX. Phương pháp phân tích thi pháp và thẩm bình nghệ thuật được áp dụng để làm nổi bật các phạm trù thẩm mỹ về cái bi, cái hùng và cái cao cả.

Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này xuất phát từ đặc thù tư liệu văn học Cần vương từng bị chính quyền thực dân coi là quốc cấm, tiêu hủy gắt gao, đòi hỏi phải phục dựng văn bản học thận trọng trước khi định giá thẩm mỹ. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 11 tác giả tiêu biểu đại diện cho 3 miền địa lý cùng hơn 40 tập thơ văn, văn tế, hịch và câu đối còn lưu giữ. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng dựa trên tiêu chuẩn: tác giả xuất thân khoa bảng giữ vị trí thủ lĩnh phong trào kháng chiến hoặc có tác phẩm phản ánh sâu sắc nỗi đau mất nước và ý chí bất khuất của quần chúng nhân dân. Toàn bộ tiến trình khảo sát bao quát 42 năm lịch sử, tập trung vào hai mốc thời gian trọng yếu là 1858 đến 1885 và 1885 đến 1900.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu mang lại 4 phát hiện học thuật cốt lõi: Thứ nhất, có sự chuyển biến sâu sắc trong việc nhận diện kẻ thù mới. Khác với các cuộc kháng chiến chống phong kiến phương Bắc trước đây, đây là lần đầu tiên dân tộc đối đầu với một thế lực thực dân tư bản có trình độ công nghiệp vượt trội. Khoảng 90% triều thần thời kỳ đầu nhận thức ngây thơ, coi kẻ thù chỉ là lũ mọi rợ đòi quyền thông thương, nhưng văn chương yêu nước đã nhanh chóng phơi bày bản chất xâm lược toàn diện của chủ nghĩa đế quốc.

Thứ hai, hình thành mô hình tác giả nhà nho - chiến sĩ độc đáo. Ước tính có tới hơn 80% tác giả tiêu biểu trong giai đoạn này là những nhà khoa bảng giữ vai trò thủ lĩnh phong trào Cần vương như Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân, Nguyễn Quang Bích. Sáng tác thi ca đối với họ không đơn thuần là để tiêu khiển cảm hoài mà trở thành vũ khí chiến đấu trực diện, trút cả máu xương vào từng câu chữ.

Thứ ba, ghi nhận bước đại chúng hóa mạnh mẽ của ngôn ngữ văn chương bác học. Tỷ lệ tác phẩm viết bằng chữ Nôm, văn tế và các thể loại gần gũi với dân gian tăng khoảng 35% so với nửa đầu thế kỷ XIX. Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ lần đầu tiên bước vào văn học viết một cách đường bệ, bất tử qua văn tế của Nguyễn Đình Chiểu.

Thứ tư, tính phân hóa không gian địa - văn hóa diễn ra rõ nét. Nam Kỳ là khu vực nổ ra phong trào sớm nhất, đóng góp hơn 60% khối lượng tác phẩm văn học yêu nước giai đoạn 1859 đến 1874. Sau khi triều đình đầu hàng hoàn toàn, Trung Kỳ và Bắc Kỳ trở thành tâm điểm của phong trào Cần vương giai đoạn 1885 đến 1896 với âm hưởng bi tráng sâu sắc.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những chuyển biến trên bắt nguồn từ sự bạc nhược và từng bước đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn qua các hòa ước bất bình đẳng các năm 1862, 1874, 1883 và 1884. Hoàn cảnh mất nước buộc các văn thân sĩ phu phải tự mình lựa chọn con đường cứu nước, đưa tinh thần trung quân chuyển hóa thành tinh thần ái quốc chân chính gắn với nhân dân. So với các công trình nghiên cứu trước năm 1975 vốn chủ yếu xem thơ văn thời kỳ này như tài liệu minh họa lịch sử, luận văn chứng minh bước nhảy vọt về giá trị thẩm mỹ, đặc biệt là sự định hình của phạm trù cái bi kịch anh hùng.

Để trực quan hóa các kết quả nghiên cứu, hệ thống dữ liệu có thể được trình bày thông qua biểu đồ cột thể hiện mật độ tác phẩm xuất hiện qua các mốc thời gian then chốt từ 1858 đến 1896. Đi kèm với đó là bảng tổng hợp ma trận phân bổ thể loại, đối sánh tỷ lệ sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm giữa 3 khu vực địa - văn hóa, giúp người đọc dễ dàng nhận diện bước chuyển biến ngôn ngữ của thời đại.

Đề xuất và khuyến nghị

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, 4 giải pháp khoa học và thực tiễn được đề xuất nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn học yêu nước:

Thứ nhất, tiến hành số hóa toàn diện 100% kho tư liệu di cảo thơ văn thời kỳ 1858 đến 1900 còn lưu giữ tại Thư viện Quốc gia và Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Kế hoạch triển khai trong giai đoạn 2026 đến 2028 dưới sự chủ trì của Viện Văn học, nhằm ngăn ngừa nguy cơ mục nát văn bản gốc và phục vụ công tác tra cứu học thuật trực tuyến.

Thứ hai, đổi mới nội dung giảng dạy bằng cách bổ sung khoảng 25% dung lượng kiến thức về các tác giả Cần vương và văn học Nam Bộ vào chương trình Ngữ văn bậc trung học và đại học. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần hoàn thành cập nhật bộ tài liệu hướng dẫn giảng dạy chuyên đề trước niên khóa 2027.

Thứ ba, xây dựng cổng dữ liệu số liên kết 3 miền với quy mô hơn 500 mục từ phân tích tác giả, tác phẩm và văn bản dịch chú chuẩn xác. Dự án do các trường đại học sư phạm và khoa học xã hội phối hợp thực hiện trong thời gian 18 tháng, tạo nền tảng tư liệu mở cho cộng đồng học thuật.

Thứ tư, biên soạn và xuất bản bộ toàn tập di sản văn học chống Pháp nửa sau thế kỷ XIX với độ chuẩn xác văn bản đạt trên 98%. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội phối hợp với Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc gia chủ trì thực hiện, dự kiến hoàn thành xuất bản vào quý 4 năm 2027.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, các giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lịch sử tư tưởng. Công trình cung cấp khung lý thuyết văn học sử vững chắc, giúp người nghiên cứu xây dựng các đề tài chuyên sâu về giai đoạn văn học giao thời thế kỷ XIX sang thế kỷ XX.

Thứ hai, giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông trên cả nước. Thầy cô có thể khai thác trực tiếp nguồn tư liệu thẩm bình sâu sắc về Nguyễn Đình Chiểu, Phan Đình Phùng và Nguyễn Quang Bích để làm phong phú bài giảng theo chương trình giáo dục phổ thông mới.

Thứ ba, sinh viên và học viên cao học khối ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn. Nguồn khảo cứu hơn 40 tập tài liệu chuyên khảo giúp người học rèn luyện kỹ năng xử lý văn bản Hán Nôm và phương pháp nghiên cứu liên ngành văn - sử.

Thứ tư, các chuyên gia bảo tồn di sản tại bảo tàng và sở văn hóa các địa phương. Nghiên cứu cung cấp căn cứ lịch sử xác thực để phục dựng tư liệu, lập hồ sơ di tích Cần vương và biên soạn các ấn phẩm địa chí văn hóa vùng miền.

Câu hỏi thường gặp

Điểm khác biệt cốt lõi giữa văn học yêu nước giai đoạn 1858 đến 1900 so với các thời kỳ trước là gì? Khác biệt căn bản nằm ở đối tượng xâm lược và bối cảnh lịch sử. Lần đầu tiên dân tộc đối đầu với thế lực thực dân phương Tây có phương thức sản xuất tư bản vượt trội. Văn học không còn âm hưởng khải hoàn như thời Lý hay Lê sơ, mà mang sắc thái bi tráng sâu sắc của cuộc chiến đấu không cân sức nhưng sáng ngời tinh thần bất khuất.

Vì sao văn học yêu nước Nam Bộ lại hình thành sớm nhất và mang tính chiến đấu mạnh mẽ? Thực dân Pháp tấn công Gia Định từ năm 1859 và nhanh chóng áp đặt bộ máy cai trị lên 6 tỉnh Nam Kỳ. Đối diện trực tiếp với súng đạn kẻ thù, các văn thân yêu nước như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị đã sớm nhận diện dã tâm xâm lược. Nhờ đó, Nam Kỳ đóng góp hơn 60% tác phẩm kháng chiến giai đoạn đầu, mở đầu cho cả trào lưu.

Đặc điểm nổi bật nhất của loại hình tác giả trong phong trào văn học Cần vương là gì? Hầu hết tác giả tiêu biểu đều là những trí thức Nho học đỗ đạt cao như Đình nguyên hay Hoàng giáp nhưng sẵn sàng dấn thân cầm gươm cứu nước. Hơn 80% tác giả trực tiếp chỉ huy phong trào Cần vương, tiêu biểu như Phan Đình Phùng tại Hương Khê hay Nguyễn Quang Bích ở mặt trận Tây Bắc, biến sáng tác thành vũ khí chiến đấu.

Tình trạng tư liệu bị thất lạc do chiến tranh ảnh hưởng như thế nào đến công tác nghiên cứu? Dưới thời Pháp thuộc, thơ văn yêu nước bị coi là quốc cấm, người lưu giữ có thể bị xử chém hoặc tù đày. Nhiều sáng tác chỉ được truyền khẩu hoặc chép trên giấy mủn nát trước khi tác giả hy sinh. Để phục hồi, nghiên cứu phải tiến hành khảo tra hàng chục dị bản và dịch chú nghiêm cẩn từ các bản chữ Hán và Nôm gốc.

Ý nghĩa khoa học của việc phân chia khảo sát văn học theo 3 vùng miền là gì? Phương pháp phân vùng phản ánh trung thực diễn tiến kháng chiến kéo dài suốt 42 năm qua từng chiến trường cụ thể. Mỗi vùng miền mang một đặc trưng địa - văn hóa và thời điểm nổ ra phong trào khác nhau, giúp công trình dựng lại diện mạo toàn cảnh khách quan, tránh cái nhìn phiến diện hoặc áp đặt đồng nhất cho toàn bộ nền văn học.

Kết luận

Nghiên cứu về văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX đã tổng kết 5 đóng góp học thuật quan trọng:

  • Tái hiện toàn diện diện mạo văn học yêu nước trong 42 năm lịch sử đầy biến động từ năm 1858 đến năm 1900.
  • Khẳng định bước chuyển biến tư tưởng mang tính quy luật từ Nho giáo phong kiến sang tinh thần dân tộc và nhân dân hóa.
  • Làm rõ đặc trưng loại hình tác giả độc đáo khi hơn 80% nhà thơ xuất thân khoa bảng trở thành lãnh tụ khởi nghĩa Cần vương.
  • Khám phá bước tiến đại chúng hóa ngôn ngữ văn học qua sự phát triển rực rỡ của các thể loại chữ Nôm và văn tế.
  • Khắc họa bức tranh địa - văn hóa đa dạng, gắn kết hữu cơ giữa 3 vùng chiến trường Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ.

Về lộ trình tiếp theo, công tác nghiên cứu cần hướng tới mục tiêu số hóa 100% kho tư liệu di cảo Hán Nôm và xuất bản các công trình khảo cứu chuyên sâu trong giai đoạn 2026 đến 2030. Những giá trị bất hủ của dòng văn học này là ngọn lửa tinh thần thiêng liêng nhắc nhở thế hệ hôm nay về lòng yêu nước và trách nhiệm bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Hãy cùng chung tay gìn giữ và lan tỏa những trang văn bất khuất của cha ông trong kỷ nguyên phát triển mới.