PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Gia đình là môi trƣờng xã hội hóa quan trọng nhất, không chỉ hình thành nên nhân cách, lối sống của cá nhân mà đó còn là môi trƣờng cá nhân dễ dàng tiếp nhận đƣợc những kiến thức, kĩ năng sống trong đó có cả các kiến thức, kĩ năng về giới tính, tình dục và sức khỏe sinh sản. Ở Việt Nam những năm gần đây tỉ lệ thanh niên có quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân đang có xu hƣớng gia tăng, độ tuổi quan hệ tình dục lần đầu ở Việt Nam cũng có xu hƣơng giảm từ 19,6 năm 2003 còn 18,1 năm 2010. Mặc dù vậy, so với nhiều nƣớc trên thế giới, Việt Nam vẫn là nƣớc có độ tuổi quan hệ tình dục muộn hơn nhƣng tỉ lệ nạo phá thai lại thuộc hàng cao nhất trên thế giới.
Theo thống kê của Vụ Sức khỏe bà mẹ trẻ em, năm 2010, cả nƣớc có 470.000 ca phá thai, trong đó có hơn 9.000 ca là vị thành niên. Đến năm 2015, trong tổng số gần 280.000 ca phá thai, có khoảng hơn 5.500 ca phá thai ở tuổi vị thành niên thực hiện ở hệ thống công, chƣa kể các cơ sở y tế tƣ nhân. Cũng trong năm 2015, trong tổng số các ca đẻ thì có hơn 42.000 ca là vị thành niên, chiếm hơn 3,5%. Theo Bác sĩ Phạm Thanh Hải, BV Từ Dũ Hồ Chí Minh: “Trẻ vị thành niên có tỷ lệ phá thai cao là do các em đã quan hệ tình dục quá sớm nhƣng lại mù mờ về kiến thức sức khỏe sinh sản (hơn 90% trẻ vị thành niên không biết độ tuổi có thai phù hợp, 61% thì không biết về thời điểm dễ mang thai nhất, cũng nhƣ 50% không biết về các biện pháp tránh thai ).
Qua đó có thể phản ánh thực tế hiện nay giới trẻ Việt Nam đang thiếu nghiêm trọng những kiến thức cơ bản về tình dục và sức khỏe sinh sản. Vậy nguyên nhân là do đâu? Từ trƣớc tới nay theo quan niệm truyền thống của ngƣời Việt Nam, giới tính, tình dục, sức khỏe sinh sản là những vấn đề nhạy cảm vì vậy ít khi đƣợc đề cấp đến một cách thẳng thắn, công khai. Những năm trở lại đây, quan niệm này đã dần đƣợc thay đổi, sự trao đổi về những vấn đề này trở nên thoải mái, 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công khai hơn trƣớc. Tuy nhiên khái niệm giáo dục giới tính ở Việt Nam vẫn là một khái niệm xa lạ và mơ hồ với nhiều ngƣời.
Ở nhà trƣờng, những giờ học về giáo dục giới tính ở các trƣờng học còn rất ít, hoặc có thì cũng chỉ đƣợc lồng ghép vào các môn học nhƣ sinh học, giáo dục công dân, kiến thức cung cấp cho ngƣời học là không nhiều, thiếu hệ thống và chƣa phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi nên chƣa đem lại hiệu quả nhƣ mong muốn. Còn trong gia đình, hầu hết các bậc cha mẹ vẫn rất ngại khi trao đổi với con cái mình về những vấn đề này với suy nghĩ đây là vấn đề “của ngƣời lớn” hoặc “không vẽ đƣờng cho hƣơu chạy”. Nhƣng với tâm lý tò mò, muốn khám phá, muốn khẳng định mình của tuổi mới lớn các em vẫn sẽ tìm hiểu những vấn đề này qua những kênh thông tin khác nhƣ: sách báo, internet, bạn bè,…những kiến thức này có thể là đúng nhƣng cũng có rất nhiều thông tin sai lệch. Đặc biệt trong thời đại bùng nổ internet nhƣ hiện nay, trẻ có thể dễ dàng tìm đƣợc ngay những clip, thông tin không lành mạnh để thỏa chí tò mò, khám phá của tuổi mới lớn.
Khi trẻ không đƣợc giáo dục, cung cấp kiến thức một cách chính thống, không đƣợc định hƣớng đúng đắn về giới tính và tình dục, các em dễ dàng làm theo những gì mình đƣợc xem, đƣợc đọc và hậu quả là những câu chuyện đáng buồn, những hiện tƣợng nhức nhối thời gian gần đây. Cần phải thẳng thắn nhìn nhận một cách đúng đắn về cách giáo dục cho trẻ em Việt Nam về giới tính, tình dục và sức khỏe sinh sản. Phải thấy rằng đây là những kiến thức, kỹ năng hết sức cần thiết cho trẻ vị thành niên. Không phải nhà trƣờng, các phƣơng tiện truyền thông mà cha mẹ mới là ngƣời đóng vai trò quan trọng nhất trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên.
Cha mẹ phải là ngƣời thầy để chỉ dẫn, định hƣớng một cách đúng đắn về giới tính, tình dục cho các em, và cũng là những ngƣời bạn để lắng nghe những tâm tƣ, tình cảm, những thắc mắc của các em và cùng các em giải đáp, tháo gỡ kịp thời. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thị trấn Trâu Quỳ huyện Gia Lâm là khu vực đông dân cƣ, khá phức tạp, đa phần là những ngƣời làm nghề phi nông nghiệp với nhiều ngành nghề khác nhau trong đó chủ yếu là công chức, buôn bán, dịch vụ và đi làm công nhân. Nhƣ vậy, nghề nghiệp của ngƣời dân trong xã cũng hết sức đa dạng, nên đặc điểm nghề nghiệp, trình độ học vấn của cha mẹ có thể ảnh hƣởng đến việc giáo dục con cái, trong đó có việc giáo dục giới tính cho con ở độ tuổi vị thành niên. Chính từ thực tế đó mà nên tôi lựa chọn đề tài: “Vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên” (nghiên cứu trường hợp tại thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, Hà Nội) để tìm hiểu về nhận thức cũng nhƣ cách thức giáo dục giới tính cho con cái trong các gia đình tại địa bàn, tác động của việc giáo dục giới tính trong gia đình tới nhận thức, tâm lý, hành vi giới của trẻ em nơi đây từ đó đƣa ra một số khuyến nghị để nâng cao vai trò của gia đình đối với vấn đề này.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Hƣớng nghiên cứu về giới tính và giáo dục giới tính - Giáo trình xã hội học về giới của tác giả Hoàng Bá Thịnh đã đề cập đầy đủ các khái niệm về giới tính, để phân biệt giữa khái niệm giới và giới tính, đề cập về các vấn đề sinh lí căn bản nhất của con ngƣời, để thấy sự khác nhau giữa cơ thể nam và nữ về mặt gen, mặt sinh học, thấy đƣợc những điều khác biệt giữa hai giới tính. Từ sự khác biệt đó để giải thích sự khác nhau về vai trò xã hội và hành vi xã hội của hai giới tính, từ đó có thể thấy đƣợc cách giáo dục giới tính giữa hai giới cũng cần có sự khác biệt để phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của mỗi giới. [10] - Tác giả Nguyễn Võ Kỹ Anh trong nghiên cứu “Giáo dục giới tính - Phòng chống tệ nạn mại dâm” đƣa ra các khái niệm về giới tính, các vấn đề liên quan đến giới tính và sức khỏe, sự phát triển thể chất ở tuổi VTN thay đổi về tâm sinh lí, hình thành nhân cách, các đặc điểm và những yếu tố ảnh hƣởng đến sự phát triển của VTN.
Việc giáo dục tình dục, sức khỏe sinh sản đang 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhận đựơc sự quan tâm và thật sự cần thiết hiện nay nhất là đối với các bậc cha mẹ vì họ cần chuẩn bị kĩ những kiến thức về giới tính để GDGT cho con cái, điều này theo tác giả sẽ làm đẩy và phòng chống tệ nạn mại dâm.[1] - Nghiên cứu “ Yếu tố nguy cơ, yếu tố bảo vệ liên quan đến quan hệ tình dục ở vị thành niên: nghiên cứu dọc tại Chí Linh, Hải Dương” của Nguyễn Văn Nghị, Vũ Mạnh Lợi, Lê Cự Linh, Nguyễn Thanh Long( NXB Viện xã hội học – Viện khoa học xã hội Việt Nam ) đề cập đến giai đoạn bắt đầu tuổi VTN và các yếu tố tác động đến giai đoạn này, các đặc điểm của tuổi vị thành niên và những ảnh hƣởng từ bạn bè đồng lứa về các vấn đề tình dục và sức khỏe sinh sản. Qua nghiên cứu đã đƣa ra đƣợc các kết quả về số liệu định lƣợng để so sánh sự hiểu biết và phân tích các yếu tố liên quan với hành vi đã từng quan hệ tình dục ở VTN theo nhóm tuổi, nơi ở, điều kiện kinh tế, giới tính nam nữ. So sánh giữa những trẻ đƣợc sự quan tâm của cha mẹ và những trẻ không nhận đƣợc sự quan tâm ở tuổi VTN thì sẽ có những hiểu biết về GDGT ra sao và tránh đƣợc việc QHTD khi đang ở độ tuổi dậy thì, tránh đƣợc các hậu quả do QHTD gây ra. Các kết quả nghiên cứu về định tính để biết đƣợc ý kiến, thông tin về những yếu tố quan trọng tác động tới hành vi QHTD ở VTN, những thông tin về các môi trƣờng trẻ VTN học đƣợc GDGT nhƣ từ gia đình, nhà trƣờng, các phƣơng tiện truyền thông đại chúng.
Ngoài ra còn đƣa ra đƣợc kết luận về nhận thức của VTN trong GDGT gồm những nội dung gì, các chƣơng trình giáo dục, truyền thông, tƣ vấn tác động nhƣ thế nào đến vấn đề QHTD, SKSS và GDGT cho VTN và nhận thức của các bậc cha mẹ về các vấn đề đó.[16] - Nghiên cứu “Giáo dục giới tính cho học sinh THCS Hà Nội phù hợp với tuổi dậy thì hiện nay” [9]của hai tác giả Mai Văn Hưng và Nguyễn Thị Thu Huyền lại đề cập đến việc giáo dục giới tính trong nhà trƣờng. Tác giả đƣa ra thực trạng GDGT trong nhà trƣờng vừa thiếu về nội dung và yếu về phƣơng pháp, cách thức truyền tải cho học sinh vì vậy chƣa đem lại hiệu quả 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong GDGT. Bản thân nhiều giáo viên cũng bối rối về phƣơng pháp trong giảng dạy vì vậy còn tránh né hay giảng giải chƣa đầy đủ những kiến thức về GDGT tới học sinh. Hai kênh giáo dục chính thức có ảnh hƣởng lớn nhất tới trẻ là nhà trƣờng và gia đình, nếu gia đình né tránh, nhà trƣờng không dạy thì ai sẽ là ngƣời GDGT cho trẻ VTN.
Các tác giả cũng đƣa ra khuyến nghị để đem lại hiệu quả GDGT cho học sinh THCS cần có sự kết hợp giữa gia đình và nhà trƣờng với các chƣơng trình chăm sóc sức khỏe sinh sản. - Trong bài viết “Gia đình với giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên”, tác giả Hoàng Bá Thịnh đã đề cập đến mối quan hệ giữa cha mẹ và con liên quan đến vấn đề giáo dục giới tính, giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ VTN. Những số liệu trong bài viết đƣợc lấy từ nghiên cứu cơ bản của dự án “Nâng cao nhận thức về giới và những vấn đề sức khỏe sinh sản cho các gia đình nông thông Việt Nam”.