CHƯƠNG 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ CỦA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC KHAI SÁNG PHÁP Nghiên cứu về lịch sử tư tưởng đạo đức tất yếu phải xuất phát từ luận điểm coi đạo đức là một trong những hình thái của ý thức xã hội. Nhưng nếu chỉ nói như vậy thì chưa đủ. Cần phải xem xét vấn đề một cách biện chứng: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt. Tính chất đặc biệt của nó nằm ở chỗ nó là lĩnh vực hoạt động người có tính độc lập tương đối ở mức độ rất cao đối với tồn tại xã hội.Michalich đã nhận xét: “Đạo đức như là một yếu tố của ý thức xã hội, hoạt động tương đối độc lập đối với những điều kiện vật chất đến mức nó chịu ảnh hưởng đáng kể của các hình thái ý thức còn lại, đặc biệt là sự ảnh hưởng của triết học, khoa học, tín ngưỡng, hoặc nói rộng hơn - ảnh hưởng của hệ tư tưởng.
Bởi vì bản thân cái hình thức này cũng là sự phản ánh các điều kiện vật chất nên chúng cùng nhau quyết định hình thức đạo đức, đưa vào đó những yếu tố mới so với các điều kiện hiện có và dẫn đến sự gián đoạn giữa đạo đức và những điều kiện đó cũng như tính chất không phù hợp của chúng” [31, tr. Có thể nói, với một dữ kiện lịch sử thông thường, đạo đức có một “sức ỳ” nào đó – nó không đổi thay nhanh chóng theo sự thay đổi của các điều kiện vật chất. Chỉ trong những trường hợp đặc biệt, những đổi thay mang tính bước ngoặt và căn bản, mới có được tác động “nhìn thấy được” đối với những tư tưởng đạo đức đang hiện diện ở thời điểm đó. Xem xét tư tưởng đạo đức trong triết học Khai sáng Pháp, ta có thể có được một ví dụ điển hình cho nhận định trên.
Triết học Khai sáng Pháp nảy nở và phát triển trọn vẹn trong thế kỷ XVIII. Ở châu Âu, xét về mặt chính trị, có thể nói không quá rằng thế kỷ XVIII chính là thế kỷ của nước Pháp. Nếu như trong các thế kỷ XV, XVI và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 XVII, khi chủ nghĩa tư bản đã đi từ những giai đoạn tích lũy nguyên thủy đầu tiên đến sự dần dần hình thành và bước hẳn lên vũ đài lịch sử với Hà Lan (đất nước của cuộc Cách mạng tư sản đầu tiên trong lịch sử, diễn ra vào năm 1579) và Anh quốc (đất nước của Cách mạng tư sản 1642-1688), thì đến thế kỷ XVIII, trung tâm của những cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại những giai cấp và tầng lớp đặc quyền đặc lợi đã chuyển sang nước Pháp. Đây chính là thời kỳ mà Ăngghen đã nhắc tới, thời kỳ “nước Pháp đã đập tan chế độ phong kiến và thiết lập nền thống trị thuần túy của giai cấp tư sản dưới một dạng cổ điển mà không một nước nào khác ở châu Âu đạt được” [28, tr.
Sự kiện nổi bật nhất diễn ra trên nước Pháp trong thế kỷ XVIII, có ý nghĩa không chỉ trong phạm vi châu Âu mà còn mang tính chất một chuyển biến lịch sử căn bản, là cuộc Cách mạng tư sản 1789. Để cuộc đại cách mạng này bùng nổ, trong suốt thế kỷ XVIII đã diễn ra những thay đổi làm lung lay tận gốc tất cả những nền tảng xã hội cũ ở Pháp. Và tất cả những chuyển biến dữ dội đó đã ghi những dấu ấn sắc nét lên đời sống tư tưởng, trong đó có lĩnh vực tư tưởng đạo đức. Điều kiện kinh tế – xã hội Trong suốt thế kỷ XVIII, nước Pháp là nước phát triển thứ hai ở châu Âu, chỉ sau nước Anh, nhưng vẫn là một nước nông nghiệp với 90% dân số (trên tổng số 25 triệu người) là nông dân.
Hơn nữa, Pháp lại là nước có nền nông nghiệp lạc hậu hơn nhiều so với Anh quốc. Các phương thức canh tác cũ kỹ, công cụ sản xuất cổ xưa, năng suất đặc biệt thấp, nạn mất mùa xảy ra thường xuyên. Thế kỷ XVIII ở Pháp đã xảy ra 16 nạn đói trên phạm vi toàn quốc, mà theo như lời tác giả Những cấu trúc sinh hoạt thường ngày thì “những số liệu này lập vào thế kỷ XVIII, tất nhiên là đã được nêu lên với tất cả sự dè dặt, chỉ có nguy cơ là hơi lạc quan vì đã bỏ qua hàng trăm và hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 trăm trận đói từng vùng” [3, tr. Chúng ta biết rằng nước Pháp ở vào khu vực mà khí hậu và đất đai thuộc loại thuận lợi nhất ở Tây Âu cho sự phát triển nông nghiệp.
Tình trạng đó một phần lớn là hậu quả của phương thức sở hữu và canh tác phong kiến lạc hậu. Đất đai hầu như hoàn toàn nằm trong tay các lãnh chúa phong kiến, người nông dân nhận đất và trồng cấy trên đó bằng những phương thức được lưu truyền từ đời này qua đời khác. Đất đai do đó bị chia cắt, manh mún, không sinh lợi. Trong thế kỷ XVIII, đã có một vài địa chủ tổ chức sản xuất theo phương thức tư bản chủ nghĩa trên đất đai của mình.
Họ tập trung đất đai lại, xua đuổi người nông dân từng canh tác nhiều đời trên mảnh đất đó đi nơi khác, ứng dụng những cải tiến kỹ thuật du nhập từ nước Anh. Nhưng số những người thực hiện công việc đó còn rất ít, và “ở Pháp, trước Cách mạng tư sản, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở nông thôn nói chung còn khá yếu” [30, tr. Tình hình công nghiệp và thương nghiệp có khả quan hơn. Chịu ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp đang diễn ra rất sôi nổi ở bên kia eo biển Măngsơ, công nghiệp Pháp đến cuối thế kỷ XVIII đã khá phát triển, với nhiều công trường thủ công tập trung và bán tập trung, máy móc được cải tiến, số lượng công nhân tăng nhanh và có sự chuyên môn hóa cao.
Tuy nhiên, công nghiệp bị kìm hãm bởi phương thức sản xuất phong kiến, bởi chính quyền chuyên chế với những quy định ngặt nghèo và vô lý về thuế, về quy mô sản xuất, về sản phẩm, v. Tình trạng tự cung tự cấp do không có sức mua của nông dân, những thuế khóa nặng nề và chồng chất, sự không thống nhất của thị trường trong nước đều góp phần hạn chế sự tăng trưởng của công nghiệp và thương nghiệp. Có thể nói, đến thế kỷ XVIII, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã hình thành và phát triển trong lòng chế độ chuyên chế Pháp. Dù chịu rất nhiều kìm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 nén và sau này, ngay trước cách mạng tư sản, là sự chống đối quyết liệt, thì phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cùng với lực lượng đại diện của nó – giai cấp tư sản – đã thật sự có được vị trí không thể thay thế trong nền kinh tế Pháp và do đó trong đời sống xã hội Pháp thế kỷ XVIII.
Xã hội Pháp thế kỷ XVIII chia thành ba đẳng cấp. Đó là những đẳng cấp tăng lữ, quý tộc và “đẳng cấp thứ ba”. Tăng lữ và quý tộc là những đẳng cấp đặc quyền đặc lợi. Tăng lữ - giáo hội, giáo sĩ, người nắm quyền về đời sống tinh thần, “nắm phần hồn”, của xã hội.
Quý tộc - giới quyền chức tập hợp quanh nhà vua và địa chủ quý tộc ở các vùng, nắm quyền chính trị thực tế. Đẳng cấp thứ ba bao gồm toàn bộ thành phần dân cư còn lại: tư sản, nông dân, người bình dân (plèbe), là đẳng cấp thấp nhất, không có một chút quyền lực nào, không có được tiếng nói nào trong việc định đoạt đường hướng phát triển của xã hội - xã hội mà trong đó họ chiếm đa số (khoảng 99% dân cư). Trong nội bộ các đẳng cấp không có tính đồng nhất. Điều này thể hiện ngay ở các đẳng cấp đặc quyền.
Trong giới tăng lữ, có sự phân biệt giữa tăng lữ cấp cao – hồng y, các giám mục, những chức sắc tôn giáo xuất thân đại quý tộc – và tăng lữ “cấp thấp” – các cha xứ, những thầy trợ tế ở các giáo khu nông thôn. Tầng lớp “cấp thấp” này gần gũi với nhân dân, đặc biệt là với nông dân, và cũng bị tầng lớp “cấp cao” chèn ép, nên trong những cuộc đấu tranh vì dân chủ do giai cấp tư sản khởi xướng, người ta cũng thấy những giáo sĩ “cấp thấp” trong hàng ngũ đấu tranh, ở những hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp. Điển hình của tầng lớp tăng lữ “cấp thấp” trong việc phản kháng lại chính đẳng cấp tăng lữ, là mục sư Jean Meslier (1664-1729)2. Trong giới quý tộc, sự không đồng nhất thể hiện rõ ràng hơn.
Quý tộc cung đình và quý tộc nông thôn, quý tộc cung kiếm (dòng dõi kỳ cựu) và quý tộc áo dài (xuất thân 2 Jean Meslier là mục sư giáo xứ Êtrêpinhi, vùng Ácđen, sống trong thầm lặng và chết không tên tuổi, nhưng để lại một tác phẩm - Di chúc - trong đó thể hiện phản ứng dữ dội đối với giáo hội và mang tính duy vật, vô thần rõ nét. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 tư sản, dùng tiền mua tước vị quý tộc), giữa họ có những bất đồng về quyền lợi và cả về địa vị. Tuy nhiên, “giữa những nhóm của hai đẳng cấp trên đều không có những mâu thuẫn đối kháng. Họ đều có một nét chung (có lẽ chỉ trừ tăng lữ cấp thấp) là họ thuộc về những đẳng cấp có đặc quyền và thống trị, bóc lột, bóp nặn và áp bức phần dân cư còn lại trước hết là nông dân” [30, tr.
Trong đẳng cấp thứ ba, nổi trội nhất là giai cấp tư sản, đại diện cho phương thức sản xuất mới hình thành và đang chiếm ưu thế trong xã hội. Giai cấp tư sản Pháp thế kỷ XVIII, về phương diện kinh tế, là giai cấp nắm hầu như toàn bộ nguồn của cải của xã hội. Họ có trong tay những công xưởng lớn, lượng nhân công lớn, sản xuất và kinh doanh những sản phẩm quan trọng đem lại cho nước Pháp vị thế thứ hai ở châu Âu. Họ đưa về nước những cải tiến kỹ thuật từ nước Anh, làm cho khoa học và kỹ thuật có điều kiện để phát triển.
Họ không nắm ruộng đất, nhưng toàn bộ ngân hàng và hoạt động tài chính do họ kiểm soát. Những địa chủ ít ỏi có thể đem lại lợi nhuận từ sản xuất nông nghiệp cũng chính là những người áp dụng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào trong nông nghiệp và dần dần trở thành những nhà tư bản.