phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, Luận văn gồm 3 chương: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thông điệp truyền thông KH&CN cho nông dân trên báo chí. Nội dung của chương này tập trung làm rõ các khái niệm, đặc trưng, thế mạnh của các loại hình báo chí (đặc biệt là phát thanh và truyền hình) trong chuyển tải thông điệp về KH&CN cho nông dân; nhu cầu của công chúng nông dân về thông tin, thông điệp KH&CN; chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về truyền thông KH&CN cho nông dân; chủ trương, chính sách về KH&CN hỗ trợ sản xuất nông nghiệp. - Chƣơng 2: Thực trạng thông điệp truyền thông về KH&CN cho nông dân trên phát thanh và truyền hình. Chương này chủ yếu đi sâu quan sát, phân tích nội dung và hình thức chuyển tải thông điệp truyền thông về KH&CN cho nông dân trong chương trình phát thanh Nông nghiệp và Nông thôn (VOV1) và chương trình truyền hình Chuyện nhà nông với nông nghiệp (VTV1).
- Chƣơng 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp về KH&CN cho nông dân trên báo chí. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THÔNG ĐIỆP TRUYỀN THÔNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHO NÔNG DÂN TRÊN BÁO CHÍ 1. Một số khái niệm 1.1 Khoa học và công nghệ * Khoa học Thuật ngữ “khoa học” xuất hiện từ rất sớm, là khái niệm có nội hàm phức tạp, phản ánh một hình thức sáng tạo đặc biệt, một lĩnh vực hoạt động có vị trí rất quan trọng trong đời sống xã hội. Có nhiều quan niệm khác nhau về khoa học.
Trên thế giới, có một khái niệm về khoa học như sau: Khoa học là toàn bộ hoạt động có hệ thống nhằm xây dựng, tổ chức kiến thức bằng những lời giải thích, tiên đoán có thể kiểm tra được về vũ trụ. Thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập thông tin, rồi sắp xếp các thông tin đó thành dữ liệu để phân tích nhằm giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tượng [31]. Ở Việt Nam, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khoa học. Theo giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của PGS.TS Vũ Cao Đàm: “Khoa học là một hệ thống tri thức, gồm tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học”.
Theo Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13 “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy”. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm khoa học theo cách tiếp cận có chọn lọc của văn bản Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13 ngày 18/6/2013. * Công nghệ Thuật ngữ “công nghệ” xuất phát từ chữ Hy Lạp “techne” có nghĩa là một nghệ thuật hay một kỹ năng, và “logia”, nghĩa là một khoa học hay một nghiên cứu. Theo Ủy ban kinh tế và xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP): Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin.
Công nghệ bao gồm kiến thức, kỹ năng. Thiết bị, phương pháp và các hệ thống 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ. Định nghĩa về công nghệ của ESCAP được coi là bước ngoặt trong quan niệm về công nghệ. Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ mà khái niệm công nghệ được mở rộng ra tất cả lĩnh vực hoạt động xã hội.
Theo các tài liệu nghiên cứu của PGS.TS Vũ Cao Đàm [5], có 3 khái niệm về công nghệ: Khái niệm 1: “Công nghệ là một trật tự nghiêm ng t các thao tác của quá trình chế biến vật chất thông tin”. Khái niệm 2: “Công nghệ là một phương tiện (device) chế biến vật chất thông tin, gồm: Phần cứng và Phần mềm”. Khái niệm 3 (Mô hình Sharif): “Công nghệ là một cơ thể (hệ thống) tri thức về quá trình chế biến vật chất ho c thông tin về phương tiện và phương pháp chế biến vật chất và ho c thông tin. Công nghệ gồm 4 yếu tố: Kỹ thuật (Technoware); Thông tin (Inforware); Con người (Humanware); Tổ chức (Orgaware) Theo Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13, “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm có độ tin cậy.
Sản phẩm ở đây bao gồm các dạng: dây chuyền công nghệ (dây chuyền công nghệ là mục tiêu) và sản phẩm cụ thể được sản xuất từ dây chuyền công nghệ (dây chuyền công nghệ đóng vai trò là phương tiện sản xuất)”. Trong phần này tác giả sử dụng khái niệm công nghệ theo cách tiếp cận của Luật KH&CN. Báo chí, truyền thông * Báo chí: Báo chí bao gồm các loại hình: Báo in, báo nói (báo phát thanh), báo hình (truyền hình), báo mạng điện tử (báo điện tử, báo trực tuyến). Báo chí (Journalism) theo quan điểm truyền thống, là phương tiện truyền thông đại chúng truyền tải những thông tin thời sự có tính định kỳ đến với đông đảo công chúng.
Theo Luật Báo chí số 103/2016/QH13 ngày 05/4/2016: Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử. * Truyền thông Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời, phát triển cùng sự phát triển của xã hội loài người, tác động, liên quan đến mọi cá nhân cũng như các nhóm, cộng đồng xã hội. Trước đây, những thành viên trong bộ lạc sử dụng truyền thông để thông báo cho nhau địa điểm, cách thức săn bắt. Trong quá trình lao động sản xuất, chinh phục thiên nhiên, làm ra của cải vật chất, con người đã tích luỹ những kinh nghiệm quý báu, phát hiện thêm các hiện tượng của thiên nhiên.
Trong xã hội cũng hình thành nhu cầu truyền thông, truyền bá kinh nghiệm, phương pháp lao động hiệu quả. Từ những hình thức truyền thông đơn giản, người ta đi đến những hình thức hiện đại như truyền hình, vệ tinh nhân tạo, Internet,. Hiện có nhiều cách hiểu về truyền thông: Theo tác giả Dương Xuân Sơn “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi ho c chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong nhận thức và hành vi” [16, tr. Hoặc theo tác giả Nguyễn Văn Dững: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin tư tưởng, tình cảm,… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai ho c nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của các cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội” [4, tr.
Định nghĩa này có bước phát triển hơn so với các định nghĩa đã được dẫn khi nhấn mạnh truyền thông là “quá trình liên tục” và truyền thông nhằm mục đích “thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi”. Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn, “Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau” [21, tr. Ngoài ra, cũng còn nhiều quan niệm khác về truyền thông. Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm:“Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết, hiểu biết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi”.
20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Truyền thông không phải là việc làm tức thời hay xảy ra trong một khuôn khổ thời gian hẹp, mà diễn ra trong thời gian dài, liên tục, tiếp diễn sau khi chuyển tải nội dung thông điệp. Truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức, hành vi. * Truyền thông đại chúng (mass communication) được hiểu chung là phương pháp truyền thông chuyển tải thông điệp đến những nhóm đông người. Nếu truyền thông là một hành vi xuất hiện trước khi hình thành xã hội loài người và có thể diễn ra không có chủ đích, thì truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội có chủ đích – “là một dạng thức truyền thông đặc biệt trong lịch sử loài người – khi mà người truyền thông tin có thể truyền tải thông điệp cho đông đảo quần chúng về số lượng và rộng khắp về địa lý – điều mà các cách thức truyền thông trước đó không thể nào có được” [10, tr.
Thuật ngữ truyền thông đại chúng xuất hiện trên thế giới khoảng cuối thế kỷ XVI, trên cơ sở của nhiều loại tiến bộ kỹ thuật khác nhau, đặc biệt là kỹ thuật in ấn. Sang thế kỷ XX, với sự ra đời của phát thanh, truyền hình, điện thoại, máy tính điện tử, mạng internet, truyền thông đại chúng phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn mức độ ảnh hưởng tới từng cá nhân riêng cũng như toàn xã hội. Năm 1946, lần đầu tiên thuật ngữ này được sử dụng trong Hiến chương Liên hợp quốc về Văn hóa, Khoa học và Giáo dục. Hiệu ứng của truyền thông cuối những năm 30 và đầu 40 của thế kỷ XX được xem như “mũi kim tiêm” hoặc “viên đạn thần kỳ”, có sức mạnh vạn năng trong việc tác động đến nhận thức, hành vi của người tiếp nhận thông điệp.
Tác giả Đặng Thị Thu Hương cho rằng: Truyền thông đại chúng ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người, bị chi phối trực tiếp bởi hai yếu tố là nhu cầu thông tin giao tiếp và kỹ thuật, công nghệ thông tin. Để thực hiện được các hoạt động truyền thông trên phạm vi và quy mô rộng lớn cần có các phương tiện kỹ thuật tương ứng [10, tr. Định nghĩa của Harold D. Laswell – nhà chính trị học nổi tiếng của Mỹ về truyền thông đại chúng đúc kết trong câu nói “Ai nói cái gì, bằng kênh nào, với ai, với hiệu ứng thế nào” (who says what in which channel to whom with what effect) đã được mọi người chấp nhận vì đơn giản, dễ hiểu và thông dụng.
21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.