CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm văn hóa Các nhà nghiên cứu đã nêu ra rằng văn hóa là những vấn đề liên quan tới con người, nó xuyên suốt mọi thời đại. Chính vì vậy, cho đến nay đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau.
Theo Lương Văn Kế (2007), “vào năm 1952, các học giả dân tộc học Kroeber và Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới” (tr. Tuy nhiên, có thể phân loại các định nghĩa về văn hóa thành những dạng chủ yếu sau đây. Theo định nghĩa văn hóa do UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc) đưa ra vào năm 1994, “Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc, quyết định tính cách của xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng” (Nguyễn Văn Tiệp, 2016, tr.
Theo định nghĩa này, tất cả những lĩnh vực đạt được của con người trong cuộc sống là văn hóa. Trong tác phẩm Văn hóa nguyên thủy, nhà nhân học người Anh E. Tylor (2001) cho rằng “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” (tr. Theo định nghĩa này, văn hóa và văn minh là một, bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật.
Định nghĩa này được rất nhiều nhà nghiên cứu văn hóa tham khảo để đưa ra định nghĩa theo quan niệm của riêng họ. Theo Hồ Chí Minh, “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và 17 các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” (Nguyễn Khánh Bật, 2002, tr. Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra.
Cũng giống như định nghĩa của E. Tylor, văn hóa theo cách nói của Hồ Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người. Các nhà nghiên cứu Hàn Quốc cũng đã đưa ra nhiều quan điểm khi định nghĩa về văn hóa. Park Yeong Soon (2006) định nghĩa rằng “Văn hóa là thứ chỉ con người mới có, văn hóa đề cập đến tất cả các khả năng tinh thần và tiêu chuẩn giá trị bao gồm khả năng phán đoán và giải thích về sự vật, trí tưởng tượng, sự sáng tạo, phản ứng cảm xúc và tổng thể tất cả các hành động và sự vật được tạo ra dựa trên những khả năng và tiêu chuẩn giá trị này” (tr.
Theo Kim Jin Seok (2015), “Văn (文) có nghĩa là học tập/nghệ thuật, phép tắc/lễ phép, hiện tượng, văn bản, hoa văn, cụm từ/câu, chữ viết,…; hóa (化) có nghĩa là giáo hóa, dạy dỗ, tuân theo/noi gương, biến đổi/thay đổi, ra đời,. Nếu kết hợp chúng lại với nhau thì văn hóa là sự giảng dạy hoặc tuân theo khoa học, nghệ thuật, phép tắc, lễ nghi, văn bản, cụm từ,…; văn hóa là sự làm thay đổi hoặc tuân theo hoa văn do cuộc sống vẽ nên; văn hóa là sự làm biến đổi hoặc thay đổi hiện tượng; văn hóa là sự làm cho ra đời khoa học, nghệ thuật,…” (tr. Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, tác giả Trần Ngọc Thêm (1996) cho rằng “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Theo định nghĩa này, văn hóa được xem như một quá trình, là phương thức ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và xã hội.
Vì vậy, có thể nhận thấy một số đặc trưng của văn hóa qua những định nghĩa trên. Thứ nhất, con người chính là chủ thể của văn hóa. Thứ hai, môi trường tự nhiên và xã hội là điều kiện không gian để hình thành văn hóa. Thứ ba, văn hóa chính là sản phẩm được sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động và tương tác xã hội của con người.
18 Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng, có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa tùy vào từng góc độ nghiên cứu của các tác giả. Mỗi định nghĩa đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa. Trong luận văn này, chúng tôi xin chọn định nghĩa về văn hóa của tác giả Trần Ngọc Thêm (1996) làm cơ sở lý luận của đề tài luận văn. Khái niệm nông nghiệp và văn hóa nông nghiệp Nông nghiệp là một ngành sơ khai xuất hiện đầu tiên nhất từ khi con người sinh ra trên trái đất và có lịch sử lâu đời nhất trong số các ngành nghề.
Vì vậy, từ thời xa xưa, nông nghiệp đã gắn bó mật thiết, trực tiếp và gián tiếp với sự phát triển của loài người. Nông nghiệp cũng là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Nông nghiệp ngày càng phát triển với nhiều hình thức khác nhau nên khái niệm về nông nghiệp cũng có sự khác nhau ở phạm vi rộng, hẹp tùy theo hướng tiếp cận. Trong Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê chủ biên (2003), “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi” (tr.
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam tập 3, “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội; sử dụng đất đai để trồng trọt, chăn nuôi; khai thác cây trồng vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Là ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản” (tr. Theo Bách khoa toàn thư về văn hóa Hàn Quốc (Encyclopedia of Korean Culture), nông nghiệp là một ngành sử dụng đất để trồng trọt hoặc chăn nuôi. Theo Bách khoa toàn thư về văn hóa dân gian Hàn Quốc (Encyclopedia of Korean Folk Culture), nông nghiệp là một ngành sử dụng đất để trồng trọt, chăn nuôi động thực vật có ích để sản xuất các sản phẩm cần thiết cho cuộc sống của con người.
Theo nghĩa rộng hơn, nông nghiệp không chỉ gồm canh tác và chăn nuôi, mà còn có lâm nghiệp và ngư nghiệp, ngay cả chế biến nông sản đều được coi là nông 19 nghiệp. Vì vậy, nông nghiệp là một ngành công nghiệp hữu cơ trồng trọt, chăn nuôi và sản xuất ra cây trồng, vật nuôi có ích, có giá trị sử dụng cao bằng cách sử dụng các lực tác động lên đất vì sự tồn tại và phát triển của con người. Khác với công nghiệp, nông nghiệp phụ thuộc vào sự phát triển tự nhiên của các sinh vật hữu cơ. Tuy nhiên, nông nghiệp ngày nay không chỉ mở rộng sang sản xuất các sản phẩm nông nghiệp và chăn nuôi mà còn mở rộng sang các ngành liên quan như chế biến, phân bón và thuốc trừ sâu, cây giống, thiết bị nông nghiệp,… Về văn hóa nông nghiệp, trong tác phẩm Những quy luật chính trị trong Sử Việt, tác giả Vũ Tài Lục (1973) đã định nghĩa rằng “Văn hóa nông nghiệp là văn hóa của sự kết hợp chân chính giữa người với đất, là văn hóa của sự khai phát đất ruộng đi cùng với sự khai phát tâm linh.
Trong đó nông dân là lực lượng cốt cán và sĩ nhân là đầu não” (tr. Theo định nghĩa này, văn hóa nông nghiệp thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa con người và đất đai, ruộng đất và tâm linh. Theo Bách khoa toàn thư về văn hóa dân gian Hàn Quốc (Encyclopedia of Korean Folk Culture), văn hóa nông nghiệp là một thuật ngữ không chỉ đề cập đến lao động và kĩ thuật cày xới đất để trồng trọt mà còn đề cập đến sản xuất và sử dụng thiết bị nông nghiệp, chăn nuôi gia súc và các nghi lễ, lễ tế, tín ngưỡng liên quan đến các hoạt động này. Theo Bách khoa toàn thư Doosan (Doosan Encyclopedia), văn hóa nông nghiệp là văn hóa hình thành chủ yếu trên cơ sở nền kinh tế trồng trọt các loại ngũ cốc và khoai tây trong thời kì đầu trước nền văn minh công nghiệp.
Trong phạm vi luận văn này, khái niệm văn hóa nông nghiệp được hiểu là loại hình văn hóa có nguồn gốc bắt nguồn từ nông nghiệp, cụ thể là trồng trọt. Trồng trọt cần thời gian dài chờ đợi để có thể thu hoạch sản phẩm nên con người định cư tại một nơi. Kết quả là hình thành khá rõ ràng loại hình văn hóa kiểu nông nghiệp: tạo dựng một cuộc sống ổn định lâu dài, mang tính trọng tĩnh, văn hóa gốc nông nghiệp. Khái niệm tục ngữ Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều định nghĩa về tục ngữ.
Trong công trình Tục ngữ Việt Nam, Chu Xuân Diên (chủ biên) (1993) nêu rằng: 20 “Tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã hội. Mỗi người dân trong một xã hội nhất định đều có thể ít hay nhiều tích lũy trong trí nhớ và hay dùng đến một số câu tục ngữ nhất định phù hợp với kinh nghiệm sống và lý tưởng sống của người ấy. Trong công trình Tục ngữ ca dao Việt Nam do Mã Giang Lân (1998) tuyển chọn và giới thiệu, “tục ngữ là lời ăn nói của nhân dân đã được đúc kết lại dưới những hình thức tinh giản mang nội dung súc tích” (tr. Trong Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê chủ biên (2003), “tục ngữ là câu ngắn gọn, thường có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn của nhân dân” (tr.