Tổng quan nghiên cứu

Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng cùng việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương gồm 12 quốc gia thành viên đang đặt các doanh nghiệp Việt Nam trước áp lực cạnh tranh khốc liệt khi thuế suất dần về 0%. Trong bối cảnh phần lớn công nghệ sản xuất trong nước còn lạc hậu, con đường tối ưu để rút ngắn thời gian và chi phí đổi mới công nghệ chính là tìm kiếm, tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ nước ngoài. Tuy nhiên, thực trạng hoạt động này giai đoạn 2010 - 2014 tại Việt Nam cho thấy hơn 70% công nghệ nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị cũ, chưa tiếp cận được công nghệ nguồn, thậm chí tiềm ẩn nguy cơ biến Việt Nam thành bãi thải công nghệ của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là xây dựng và hoàn thiện hệ thống thiết chế thúc đẩy các tổ chức khoa học công nghệ trong nước tham gia Liên minh nghiên cứu toàn cầu, dựa trên việc phân tích bài học kinh nghiệm từ Australia. Nghiên cứu tập trung vào phạm vi không gian và thời gian tại Việt Nam và Australia từ năm 2010 đến năm 2014. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn lớn khi đề xuất giải pháp kết nối trực tiếp nền khoa học công nghệ nước nhà với mạng lưới hơn 60.000 nhà khoa học quốc tế, tạo tiền đề nâng tỷ lệ hấp thu công nghệ nguồn và cắt giảm từ 30% đến 40% chi phí tìm kiếm, thương lượng giải pháp kỹ thuật cho doanh nghiệp trong nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết thể chế và thiết chế xã hội của các học giả Fichter, Douglass North và Roger Friedland, cùng mô hình cấu thành công nghệ của Ủy ban Kinh tế và Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế.

Khung lý thuyết vận dụng năm khái niệm cốt lõi:

  • Thiết chế: Hệ thống chuẩn mực, giá trị và khuôn mẫu hành vi được xã hội thừa nhận, điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển.
  • Chính sách khoa học và công nghệ: Tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua văn bản quy phạm pháp luật để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
  • Chuyển giao công nghệ: Quá trình chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng các thành phần công nghệ bao gồm kỹ thuật, con người, thông tin và tổ chức từ bên giao sang bên nhận.
  • Liên minh nghiên cứu toàn cầu: Mạng lưới hợp tác nghiên cứu ứng dụng quốc tế quy tụ 9 tổ chức nghiên cứu hàng đầu thế giới với hơn 60.000 nhà khoa học nhằm giải quyết các thách thức phát triển quy mô lớn.
  • Thiết chế trung gian và doanh nghiệp khởi nguồn: Hệ thống vườn ươm công nghệ, vườn ươm doanh nghiệp, các doanh nghiệp vệ tinh dạng spin-off và startup kết nối quá trình nghiên cứu và triển khai với thị trường sản xuất.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp với khảo sát thực địa và phỏng vấn chuyên sâu định tính. Nguồn dữ liệu bao gồm hơn 30 văn bản quy phạm pháp luật về chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, các báo cáo chuyên đề của UNESCO, OECD, WIPO và dữ liệu hoạt động khoa học công nghệ giai đoạn 2010 - 2014.

Nghiên cứu tiến hành chọn mẫu phi ngẫu nhiên có chủ đích với quy mô mẫu gồm 17 đại diện phỏng vấn sâu:

  • 05 đại diện doanh nghiệp gồm các tổng công ty lớn như Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam, Tổng Công ty Cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội và doanh nghiệp vừa và nhỏ như Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Kỹ thuật Thịnh Khôi.
  • 05 đại diện tổ chức nghiên cứu và phát triển như Trung tâm Điện tử Viễn thông, Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylô, Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên, Viện Nghiên cứu Điện tử, Tin học và Tự động hóa.
  • 07 nhà quản lý khoa học công nghệ thuộc Vụ Hợp tác quốc tế, Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ, Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ.

Lý do lựa chọn phương pháp phỏng vấn chuyên sâu theo cấu trúc nhóm mẫu này là để thu thập dữ liệu đa chiều từ 3 trụ cột: cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị nghiên cứu và khu vực sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc phân tích các nút thắt thể chế diễn ra khách quan và sát thực tiễn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra 3 phát hiện mang tính then chốt về thực trạng chuyển giao công nghệ tại Việt Nam:

Thứ nhất, hệ thống văn bản pháp luật về chuyển giao công nghệ còn phân tán, thiếu đồng bộ và xuất hiện nhiều bất cập kìm hãm thị trường. Mặc dù đã có hơn 30 văn bản điều chỉnh cùng 8 văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006, hiệu lực thực thi vẫn rất thấp. Đơn cử, quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp không giới hạn đối với phần vốn góp bằng sáng chế tại Khoản 1 Điều 44 Luật Chuyển giao công nghệ 2006 vô tình tạo kẽ hở cho doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chuyển giá, trốn thuế mà không mang lại giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế.

Thứ hai, nguồn cung công nghệ trong nước quá nhỏ bé, trong khi hoạt động tiếp nhận công nghệ từ nước ngoài phụ thuộc nặng nề vào nhập khẩu phần cứng đơn thuần. Thống kê trên hệ thống dữ liệu sáng chế Vietnam DigiPat cho thấy trong 23 văn bằng bảo hộ độc quyền sáng chế được cấp ngẫu nhiên thì có tới 6 sáng chế, chiếm hơn 26%, tập trung vào lĩnh vực chế biến sản phẩm từ đất sét gốm sứ, phản ánh sự khan hiếm các sáng chế công nghệ cao. Hơn 70% giao dịch công nghệ thông qua các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài dừng lại ở cấp độ chìa khóa trao tay hoặc dây chuyền gia công lắp ráp mà không chuyển giao bí quyết phần mềm hay đào tạo chuyên sâu.

Thứ ba, Việt Nam hoàn toàn vắng bóng trong các mạng lưới liên minh nghiên cứu toàn cầu. Trong khi Liên minh nghiên cứu toàn cầu quy tụ 9 tổ chức nghiên cứu hàng đầu thế giới như Tổ chức Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Liên bang Australia, Viện Fraunhofer của Đức, Viện Battelle của Hoa Kỳ với hơn 60.000 chuyên gia, các viện trường Việt Nam vẫn hoạt động đơn lẻ, thiếu thiết chế bảo trợ để tiếp cận nguồn lực khoa học công nghệ toàn cầu này.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ sự thiếu vắng mô hình liên kết ba bên giữa Nhà nước, Viện nghiên cứu và Doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các định chế trung gian như tổ chức tư vấn định giá, sàn giao dịch công nghệ và vườn ươm khởi nguồn spin-off chưa phát triển.

Bảng so sánh sau đây mô tả rõ nét sự khác biệt về mức độ trưởng thành của hệ thống chuyển giao công nghệ:

Tiêu chí so sánh Thực trạng tại Việt Nam (2010 - 2014) Mô hình Australia (CSIRO & CRC)
Cấp độ chuyển giao chủ đạo Trao chìa khóa (nhập khẩu máy móc, trên 70%) Trao sản phẩm và trao thị trường tích hợp tri thức
Tổ chức liên kết trung gian Rất ít vườn ươm công nghệ, thiếu doanh nghiệp spin-off Hệ thống công viên công nghệ, trung tâm CRC đa ngành
Cơ chế hợp tác quốc tế Ký kết song phương tản mạn theo từng dự án nhỏ Tham gia điều hành Liên minh nghiên cứu toàn cầu GRA
Chính sách ưu đãi sở hữu trí tuệ Miễn thuế vốn góp bằng sáng chế còn kẽ hở pháp lý Định giá sáng chế minh bạch, bảo vệ bản quyền nghiêm ngặt

Kinh nghiệm từ Australia cho thấy việc vận hành thành công Chương trình Các Trung tâm hợp tác nghiên cứu và vai trò nòng cốt của Tổ chức Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Liên bang trong việc điều phối Liên minh nghiên cứu toàn cầu chính là chìa khóa giúp nước này biến các sáng chế hàn lâm thành lợi nhuận kinh tế. Đối với Việt Nam, nếu không sớm thiết lập cơ chế kết nối mạng lưới toàn cầu, doanh nghiệp trong nước sẽ tiếp tục chịu thiệt thòi trong đàm phán hợp đồng chuyển giao và đối mặt nguy cơ thụt lùi công nghệ nghiêm trọng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả tiếp nhận công nghệ tiên tiến từ nước ngoài, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp thể chế cụ thể:

Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý về chuyển giao công nghệ và sở hữu trí tuệ. Bộ Khoa học và Công nghệ cần chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính rà soát, sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 trong giai đoạn 2016 - 2018. Trọng tâm là bãi bỏ quy định miễn thuế thu nhập đại trà cho việc góp vốn bằng sáng chế tại Khoản 1 Điều 44, chỉ áp dụng ưu đãi thuế có điều kiện đối với các sáng chế cam kết chuyển giao hoàn toàn bí quyết công nghệ và tạo ra sản phẩm thương mại tại Việt Nam. Đồng thời, cần xây dựng quy chế pháp lý rõ ràng về hoạt động giải mã công nghệ thương mại nhằm bảo đảm không xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp còn hiệu lực.

Thứ hai, thiết lập cơ chế liên kết Nhà nước - Viện trường - Doanh nghiệp theo mô hình Trung tâm hợp tác nghiên cứu của Australia. Mục tiêu giai đoạn 2017 - 2020 là thành lập thí điểm từ 3 đến 5 trung tâm hợp tác nghiên cứu chuyên ngành trong các lĩnh vực ưu tiên như công nghệ sinh học, nông nghiệp công nghệ cao và tự động hóa. Nhà nước hỗ trợ 40% vốn đối ứng ban đầu, phần còn lại do doanh nghiệp và viện nghiên cứu cùng góp vốn đầu tư, chia sẻ bản quyền sở hữu trí tuệ.

Thứ ba, xây dựng thiết chế gia nhập và khai thác nguồn lực từ Liên minh nghiên cứu toàn cầu. Vụ Hợp tác quốc tế thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ làm đầu mối xây dựng đề án quốc gia gia nhập Liên minh nghiên cứu toàn cầu giai đoạn 2017 - 2020. Thiết chế này cho phép các viện nghiên cứu và doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận trực tiếp mạng lưới hơn 60.000 chuyên gia, đặt hàng giải quyết các bài toán công nghệ phức tạp với chi phí tối ưu nhất.

Thứ tư, nâng cao năng lực hệ thống định chế trung gian và thị trường công nghệ. Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ cần ban hành quy trình chuẩn về thẩm định, định giá công nghệ nhập khẩu, phấn đấu đến năm 2022 nâng tỷ lệ các hợp đồng chuyển giao có đăng ký cấp phép bản quyền và bí quyết công nghệ lên mức 25% đến 30% trong tổng số dự án đầu tư nước ngoài.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo chuyên sâu và tính ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước: Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Sở Khoa học và Công nghệ địa phương sử dụng kết quả nghiên cứu làm luận cứ thực tiễn để sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện chính sách thẩm định công nghệ trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài và thiết lập cơ chế thúc đẩy thị trường công nghệ.
  • Lãnh đạo các Viện nghiên cứu, Trường Đại học: Các nhà quản lý học thuật có thể tham khảo mô hình công viên khoa học, trung tâm ươm tạo công nghệ và cơ chế thành lập doanh nghiệp spin-off từ kinh nghiệm của Australia để thương mại hóa các đề tài nghiên cứu ra thị trường.
  • Doanh nghiệp, Tập đoàn kinh tế và Hiệp hội ngành nghề: Giám đốc công nghệ và bộ phận pháp chế của các doanh nghiệp tìm thấy trong luận văn các bài học thực tiễn về kỹ năng đàm phán hợp đồng chuyển giao công nghệ quốc tế, phòng ngừa rủi ro mua phải công nghệ thanh lý và cách thức tiếp cận giải pháp kỹ thuật từ các liên minh nghiên cứu toàn cầu.
  • Giảng viên, Học viên cao học và Nghiên cứu sinh: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị, hệ thống hóa lý luận về thiết chế khoa học công nghệ, cùng phương pháp phân tích chính sách công nghệ phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Liên minh nghiên cứu toàn cầu GRA là gì và quy mô hoạt động ra sao?
Liên minh nghiên cứu toàn cầu là mạng lưới quốc tế thành lập năm 2000 tại Nam Phi, gồm 9 tổ chức nghiên cứu ứng dụng hàng đầu thế giới như CSIRO Australia, Fraunhofer Đức, Battelle Hoa Kỳ. Tổ chức này quy tụ hơn 60.000 nhà khoa học để nghiên cứu và chuyển giao các giải pháp công nghệ phục vụ phát triển bền vững cho các quốc gia đang phát triển.

Vì sao quy định miễn thuế tại Khoản 1 Điều 44 Luật Chuyển giao công nghệ 2006 cần được sửa đổi?
Quy định miễn thuế thu nhập cho tổ chức, cá nhân góp vốn bằng sáng chế nếu không kèm theo điều kiện thẩm định dễ bị lợi dụng để trốn thuế. Doanh nghiệp có thể góp vốn bằng các sáng chế không còn giá trị thương mại lớn hoặc chỉ chuyển giao quyền sử dụng không độc quyền, gây thất thoát ngân sách mà doanh nghiệp trong nước vẫn không làm chủ được công nghệ.

Australia đã liên kết viện nghiên cứu với doanh nghiệp thông qua mô hình nào?
Australia triển khai rất thành công Chương trình Các Trung tâm hợp tác nghiên cứu kết hợp viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp để giải quyết trực tiếp nhu cầu thị trường. Đồng thời, tổ chức CSIRO đóng vai trò cầu nối, hỗ trợ ươm tạo công nghệ thông qua các công viên khoa học và chuyển giao sáng chế qua các doanh nghiệp khởi nguồn spin-off.

Hoạt động giải mã công nghệ Reverse Engineering có vi phạm quyền sở hữu trí tuệ không?
Nếu thực hiện giải mã công nghệ vì mục đích thương mại đối với các sản phẩm, giải pháp đang trong thời hạn bảo hộ bằng độc quyền sáng chế thì đây là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Hoạt động giải mã chỉ hợp pháp khi áp dụng cho các công nghệ không được bảo hộ độc quyền hoặc sáng chế đã hết hiệu lực bảo hộ.

Nghiên cứu của luận văn sử dụng quy mô mẫu và phương pháp khảo sát như thế nào?
Luận văn tiến hành chọn mẫu phi ngẫu nhiên có chủ đích và phỏng vấn sâu 17 chuyên gia giai đoạn 2010 - 2014, chia thành 3 nhóm: 05 lãnh đạo doanh nghiệp quy mô lớn và nhỏ, 05 chuyên gia từ các viện nghiên cứu chuyên ngành và 07 nhà quản lý thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, bảo đảm độ tin cậy và đa chiều của dữ liệu.

Kết luận

  • Luận văn đã làm rõ cơ sở lý luận về thiết chế khoa học công nghệ và khẳng định vai trò quyết định của các định chế trung gian trong việc thúc đẩy chuyển giao công nghệ.
  • Phân tích thực trạng giai đoạn 2010 - 2014 tại Việt Nam, chỉ ra nguy cơ tụt hậu công nghệ do hơn 70% công nghệ nhập khẩu qua đầu tư nước ngoài là thiết bị phần cứng cũ, thiếu vắng sáng chế công nghệ cao.
  • Đúc kết bài học giá trị từ Australia về mô hình liên minh nghiên cứu ba bên của CSIRO và Trung tâm hợp tác nghiên cứu CRC.
  • Đề xuất hoàn thiện thể chế với 4 nhóm giải pháp trọng tâm: sửa đổi chính sách ưu đãi thuế, hình thành trung tâm hợp tác nghiên cứu thí điểm, gia nhập Liên minh nghiên cứu toàn cầu và chuẩn hóa quy trình định giá công nghệ.
  • Lộ trình triển khai giải pháp đề xuất được hoạch định cụ thể từ năm 2016 đến năm 2025, mở ra hướng tiếp cận đột phá để hiện đại hóa nền công nghệ nước nhà.

Để hiện thực hóa các giải pháp trên và nhanh chóng đón đầu các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và lãnh đạo doanh nghiệp cần chung tay xây dựng và hoàn thiện thiết chế khoa học công nghệ, chủ động kết nối vào mạng lưới tri thức toàn cầu vì sự phát triển bền vững của đất nước.