CHƯƠNG 1. CO SỞ LÝ LUẬN CUA ĐÈ TÀI 1. Khái niệm - Khái niệm về chính sách, về Tổ chức NC&TK, về hoạt động NC&TK - Khái niệm tự chủ (Tự chủ là gì? Quyên tự chủ là gi? Năng lực tự chủ là gì? Tinh thần tự chủ là gì?) - Khái niệm về rào cản (Rào cản là gì ? rào cản trong tự chủ là gì ?) 1. Cơ sở lý luận phục vụ mục tiêu nghiên cứu của đề tài CHƯƠNG 2: NHAN DIEN RÀO CAN TRONG TUNG LĨNH VUC TU CHU CUA CAC DON VI NC&TK TRUC THUOC VIEN HAN LAM KHCNVN 2.
Tinh hình thực hiện tự chủ của Viện Hàn lâm KHCNVN - Tổng quan về Viện Hàn lam KHCNVN - Hiện trạng thực hiện Nghị định 115 và các quy định có liên quan của Viện Hàn lâm KHCNVN 2. Hiện trạng tự chủ của các đơn vị - Về định hướng nghiên cứu - Về xây dựng kế hoạch hoạt động - Về công tác tài chính - Về công tác tô chức 15 - Về nhân sự - Về công tác hợp tác quốc tế - Về các hoạt động KH&CN 2. Nhận diện những rào cản trong quá trình tự chủ của các đơn vị - Những rào cản về quyền tự chủ - Những rào cản về năng lực tự chủ của các đơn vi - Những rào cản về tinh thân tự chủ của các đơn vi CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP KHÁC PHUC RAO CAN TRONG QUA TRÌNH TU CHỦ CUA CAC DON VỊ NC&TK TRUC THUOC VIEN HAN LAM KHCNVN 3. Biến quyền tự chủ thành năng lực tự chủ - Biến quyền tự chủ về tổ chức bộ máy thành năng lực tự chủ - Biến quyền tự chủ về tài chính, tài sản thành năng lực tự chủ 3.
Khâu đột phá về năng lực tự chủ - Đột phá về tổ chức - Đột phá về tài chính 3. Điều chỉnh Nghị định 115 KET LUẬN VÀ KHUYEN NGHỊ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16 PHAN NOI DUNG NGHIÊN CỨU CHUONG 1. CO SO LY LUAN CUA DE TAI 1.1, Khai niệm chính sách 1. Chính sách Chính sách được đề ra và thực hiện ở từng tô chức với những quy mô khác nhau, từ toàn cầu đến từng quốc gia, từ nhà nước đến từng don vị,.
nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra của tổ chức trong thời hạn nhất định và chỉ có hiệu lực thi hành trong tô chức đó. Chính sách cũng có thể coi là một kế hoạch hoạt động được chủ thể xác định, lựa chọn trong tập hợp các phương án khác nhau và được xây dựng cụ thé dé giải quyết mục tiêu đề ra. Thuật ngữ chính sách được sử dụng rất thường xuyên, đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, định nghĩa chính sách lại chưa có một sự thống nhất.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cu thé dé thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tinh chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa. James Anderson, chuyên gia cao cấp, Ngân hàng Thế giới: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuối bởi một hoặc nhiễu chủ thể trong việc giải quyết các van dé mà họ quan tam”.
Theo nghĩa hẹp, chính sách có thể là một chương trình, một mục tiêu hay sự tác động của chương trình lên một số van dé của xã hội, chăng hạn như chính sách cải cách tiền lương hay chính sách trọng dụng nhân tai,. Trong khi theo nghĩa rộng, chính sách được biết đến như chính sách đối nội, chính sách đôi ngoại. 17 Theo cách tiếp cận, chính sách có thể được biết đến băng một số thuật ngữ khác (ví dụ “cơ chế” có nghĩa là “chính sách” theo cách tiếp cận cơ học). Theo quan niệm của các nhà xã hội học thì chính sách là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và các công cụ mà Nhà nước sử dụng dé tác động lên các chủ thể kinh tế-xã hội nhằm giải quyết van dé dé thực hiện những mục tiêu nhất định.
Theo quan niệm của các nhà chính trị, chính sách là sự bảy tỏ quan điểm chính trị của các tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Còn đối với các nhà quản lý thì chính sách là những định hướng tư duy, là cơ sở dé ra các quyết định về hoạt động quản lý, điều hành. Chính sách cũng có thể được hiểu như là cầu nối giữa chiến lược, đường lối, chủ trương và các hành động cụ thê (dự án, chương trình). Thuật ngữ “Chính sách” được sử dụng thường xuyên, trong nhiều lĩnh vực, đề cập đến nhiều vấn đề và trong thời gian khá dài nhưng định nghĩa về chính sách lại chưa có một sự thống nhất.
Tổng hợp những quan niệm trên, PGS. Vũ Cao Đàm đã đưa ra định nghĩa về chính sách: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thé chế hóa, mà một chủ thể quyên lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động cua nhóm này, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thong xã hội ”. Chính sách công Những chính sách do các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng được gọi là chính sách công. Chính sách công thường mang tính hành động, tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế — xã hội với mục tiêu xác định.
Hiện có nhiều quan điểm về khái niệm này: Theo quan điểm của một nhà chính tri William Jenkin đã đưa ra khái niệm: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp dé đạt được các mục tiêu đó ”. 18 Theo quan điểm quan lý thi Wiliam N. Dunn đưa ra khái niệm: “Chinh sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lan nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước dé ra”, Peter Aucoin cho rằng: “Chính sách công bao gốm các hoạt động thực tế do Chính phú tiến hành” và B. Guy Peter thì cho rang: “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có anh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân ”.
Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân. Nó là một sự kết hợp phức tạp giữa những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau do cơ quan Nhà nước đề ra (kể ca các quyết định không hành động). Tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau mà mỗi tác giả đưa ra khái niệm về chính sách công khác nhau, song nội hàm đều chứa đựng những thông tin thé hiện bản chất của chính sách công như sau: - Do nhà nước hoặc chính phủ đưa ra (hay nói cách khác thâm quyền ban hành là của nhà nước hoặc chính phủ). - Mang lợi ích công (công khai, ai cũng có quyền tiếp cận) - Việc thi hành là bắt buộc (trừ chính sách có tính khuyến khích, hỗ trợ).
- Vật mang là văn bản quy phạm pháp luật. Từ những cách tiếp cận trên ta có thể kết luận: “Chính sách công là thuật ngữ dùng dé chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một van dé chung dang đặt ra trong đời sống kinh tế — xã hội theo mục tiêu xác định ”. Chính sách KH&CN Chính sách KH&CN là một loại chính sách công được xây dựng dé điều tiết các hoạt động KH&CN (tao ra động năng phat triển xã hội). Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) thì chính sách KH&CN là một tập hợp các biện pháp có quan hệ nhân quả nhằm thúc đây hoạt động tao ra tri thức, truyền bá, phổ cập, ứng dụng các tri thức đó cho đôi mới.
19 Với mỗi cách tiếp cận khác nhau có các định nghĩa khác nhau về chính sách KH&CN. Có ý kiến cho rằng chính sách KH&CN là tập hợp các mục tiêu và hệ thống các biện pháp (tổ chức, hành chính, tai chính, kinh tế, xã hội,.) để thực hiện mục đích thúc đây hoạt động KH&CN. Trong đó, các mục tiêu được phân loại như sau: mục tiêu chiến lược (đài hạn), mục tiêu chiến thuật (ngắn hạn), mục tiêu tổng hợp và mục tiêu cụ thể, mục tiêu toàn cầu và mục tiêu cục bộ (quốc gia). Theo tác giả Vũ Cao Đàm [7,16-17]: “Chính sách phát triển KH&CN của một đất nước, một địa phương hoặc một hãng, trong đó có những lĩnh vực nghiên cứu và những công nghệ được ưu tiên phát triển theo hai hướng: - KH&CN phục vụ cho những mục tiêu ngắn hạn về phát triển kinh tế và xã hội, đặc biệt là công nghệ phải phục vụ cho mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh của sản xuất.
- Một mặt khác, KH&CN phải được phát triển đi trước, chuẩn bị cho những mục tiêu đài hạn của doanh nghiệp hoặc mục tiêu dài hạn của kinh té và xã hội, bên cạnh những lĩnh vực phải đáp ứng tức thời nhu cầu cạnh tranh của sản xuất”. Tóm lại, có thé hiểu: Chính sách là chương trình hành động đo các nhà lãnh đạo hay nhà quan lý đề ra dé giải quyết một van dé nào đó thuộc phạm vi thâm quyền của mình. Khái niệm về Tổ chức NC&TK 1. Khai nệm NC&TK Năm 1980, UNESCO đưa ra khái nệm NC&TK như sau: -Nghiên cứu (research) bao gồm hai loại, NCCB (fundamental research), NCUD (applied research).
- Quá trình “Triển khai” được UNESCO mô tả gồm 2 giai đoạn như sau: + Giai đoạn 1: Tạo sản phẩm mẫu, tức sản phẩm đầu tiên từ kết qua nghiên cứu (prototype). + Giai đoạn 2: Lam Pilot dé thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm mẫu (prototype) vừa được tao ra từ giai đoạn | (pilot production). 20 - “Triển khai” là một phần của hoạt động NC&TK. Đó là sự kế tục các kết quả nghiên cứu đề tạo ra sản phẩm mẫu, là tiền đề cho sự ra đời những sản phẩm mới và công nghệ mới.
Trong quá trình triển khai, trong tư duy của người nghiên cứu và trong phòng thí nghiệm chỉ mới xuất hiện những nguyên lý công nghệ và những thực nghiệm đang tiễn hành để hiện thực hóa ý tưởng công nghệ thé hiện trên sản phẩm mẫu, chưa hè tồn tại bất cứ một công nghệ nào [13, 349-353].