Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ CẦN THIẾT HÌNH THÀNH TỔ CHỨC NC&TK TRONG DOANH NGHIỆP I. Một số khái niệm cơ bản 1. Khoa học Qua các tài liệu được tra cứu, về cơ bản có 4 định nghĩa về khoa học dựa trên 4 cách tiếp cận sau6: Khoa học là một hệ thống tri thức; Khoa học là một hoạt động sản xuất tri thức; Khoa học là một hình thái ý thức xã hội; Khoa học là một thiết chế xã hội. Cả 4 khái niệm này đều có chỗ đứng trong tư duy và hành động của cộng đồng những người làm nghiên cứu và quản lý khoa học.
Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, khái niệm khoa học được hiểu là “lĩnh vực hoạt động nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy bao gồm tất cả những điều kiện và những yếu tố của sự sản xuất này” (Từ điển Triết học của Liên Xô - bản tiếng Việt, 1975). Công nghệ Thuật ngữ công nghệ gần đây đã trở thành một cụm từ được nhiều người ở các lĩnh vực hoạt động khác nhau nhắc tới. Có thể nói, công nghệ xuất hiện đồng thời với sự hình thành loài người. Từ “công nghệ” xuất phát từ chữ Hy Lạp “Techne” có nghĩa là một khoa học hay sự nghiên cứu.
Công 6 Vũ Cao Đàm, “Định nghĩa khái niệm “khoa học” trong Luật Khoa học và Công nghệ nên như thế nào?”, Tạp chí Hoạt động khoa học số tháng 5 năm 2008 16 z nghệ là sản phẩm do con người tạo ra làm công cụ để sản xuất ra của cải vật chất. Tuy vậy, cho đến tận bây giờ, định nghĩa về công nghệ lại chưa hoàn toàn thống nhất7. Điều đó được giải thích là do số lượng các loại công nghệ nhiều đến mức không thể thống kê hết được, ngay một loại sản phẩm lại có nhiều công nghệ khác nhau nên những người sử dụng công nghệ ở trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau sẽ dẫn đến sự hiểu biết của họ về công nghệ không giống nhau. Một trong những định nghĩa về công nghệ được dùng khá phổ biến là định nghĩa của Sharif (1986) cho rằng “công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu và tập hợp các yếu tố bao gồm môi trường vật chất, xã hội và văn hoá”.
Công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm 4 dạng cơ bản: - Dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn chỉnh). - Dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm). - Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ kiện thích hợp …được mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu, …) - Dạng thiết kế tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vấn, cơ cấu quản lý, cơ sở luật pháp, …) Ở Việt Nam, Luật Chuyển giao công nghệ được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 đã định nghĩa: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết 7 Trong Đề tài “Nghiên cứu cơ chế và chính sách phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Ca (Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, 2003) đã sưu tầm và dịch ra tiếng Việt 10 định nghĩa khác nhau về công nghệ. 17 z kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
Từ những phân tích trên đây, khái niệm công nghệ được sử dụng trong luận văn được hiểu là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng bí quyết, các loại công cụ, thiết bị máy móc, phương tiện, tư liệu sản xuất và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ, .) dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Đổi mới công nghệ Đổi mới công nghệ là việc chủ động thay thế một phần hay toàn bộ công nghệ đang được sử dụng bằng một công nghệ khác tiên tiến hơn nhằm nâng cao hiệu quả của sản xuất - kinh doanh8. Quan điểm chung9 đều nhấn mạnh yêu cầu đối với một doanh nghiệp được xem là đã đổi mới công nghệ là sản phẩm mới phải được đưa ra thị trường (đổi mới sản phẩm), hoặc một quy trình sản xuất mới được đưa vào ứng dụng trong sản xuất - kinh doanh (đổi mới quy trình). Như vậy, một sản phẩm mới không thương mại hoá được không coi là đổi mới sản phẩm, tương tự những thay đổi về quy trình chưa được áp dụng trong sản xuất thì chưa được tính là đổi mới quy trình.
Năng lực cạnh tranh Tính cạnh tranh ban đầu là một khái niệm được dùng hạn chế ở phạm vi doanh nghiệp trong các lý thuyết tổ chức công nghiệp. Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp hay một ngành công nghiệp là tiềm năng sản xuất một loại hàng hoá hay cung cấp một loại dịch vụ ở một mức giá ngang bằng hay 8 Nguyễn Thanh Tùng, “Nghiên cứu xây dựng tài liệu hướng dẫn kỹ năng nghiệp vụ đổi mới công nghệ cho DNNVV”, NISTPASS, 2007 9 Quan điểm này được đưa ra trong Tài liệu hướng dẫn Oslo, OECD (1992) và đã được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng trong hoạt động thống kê về đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp. 18 z thấp hơn mức giá phổ biến trên thị trường mà không có sự trợ cấp nào từ phía Chính phủ. Năng lực cạnh tranh được xem xét ở nhiều cấp độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp, năng lực này không chỉ đơn thuần được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, về vốn, về nhân lực mà còn là các tiêu chí về năng lực NC&TK, năng lực đổi mới, trình độ lao động, thị phần và tốc độ tăng trưởng thị phần của doanh nghiệp, năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp. Trong đó nhóm các tiêu chí sau, đặc biệt là các tiêu chí góp phần tạo nên giá trị gia tăng cho những sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp như năng lực NC&TK hay năng lực đổi mới ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Khái niệm doanh nghiệp và một số đặc điểm của doanh nghiệp Việt Nam 1.
Khái niệm doanh nghiệp Có nhiều quan điểm khác nhau về doanh nghiệp. Quan điểm của các nhà tổ chức cho rằng doanh nghiệp là một tổng thể các phương tiện, máy móc, thiết bị và con người được tổ chức nhằm đạt được một mục đích nhất định. Xét theo quan điểm lợi nhuận: doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất, theo đó trong khuôn khổ một tài sản nhất định, người ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất khác nhau, nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ cung ứng trên thị trường và thu khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm. Theo 19 z quan điểm chức năng thì doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi.
Còn theo quan điểm lý thuyết hệ thống cho rằng doanh nghiệp là một bộ phận hợp thành trong hệ thống kinh tế, mỗi đơn vị trong hệ thống đó phải chịu sự tác động tương hỗ lẫn nhau, phải tuân thủ những điều kiện hoạt động mà Nhà nước đặt ra cho hệ thống kinh tế đó nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng của xã hội. Theo quy định tại Điều 4, Luật Doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 (sau đây gọi là Luật doanh nghiệp) thì “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Hiện nay, khái niệm doanh nghiệp thường được dùng để chỉ các loại hình: công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần hay công ty hợp danh thuộc các thành phần kinh tế. Tuy vậy, ở Việt Nam ngoài các doanh nghiệp đăng ký hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nói trên, cần phải kể tới hơn 3 triệu hộ kinh doanh phi nông nghiệp (theo con số thống kê đến hết năm 2005) như những doanh nghiệp siêu nhỏ, cùng với 15.000 hợp tác xã và gần 12 vạn trang trại hoạt động như loại hình doanh nghiệp.
Đáng chú ý là trong các hộ kinh doanh, có những hộ có quy mô doanh số và lao động khá lớn song vẫn chưa đăng ký hoạt động như một doanh nghiệp, mặc dù theo quy định tại Khoản 4 Điều 170 Luật Doanh nghiệp thì “Hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên từ 10 lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Luật này”. 20 z Hiện ở Việt Nam, có 3 loại hình doanh nghiệp khá rõ, nắm giữ hầu như toàn bộ tài sản quốc gia 10, đó là: (i) Doanh nghiệp nhà nước: khối doanh nghiệp nhà nước hiện nắm giữ khoảng 75% tài sản cố định quốc gia, 20% vốn đầu tư xã hội, gần 50% vốn đầu tư của Nhà nước, 60% tín dụng ngân hàng trong nước, chiếm hơn 70% vốn vay nước ngoài và được hưởng nhiều ưu đãi tài chính khác từ phía Nhà nước. Với nhiều lợi thế như vậy song trong nhiều năm qua khu vực này vẫn hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, chỉ đóng góp khoảng 50% thu ngân sách, trong đó thuế thu nhập chỉ có 9%. Đây là khu vực hiện duy trì cơ chế quản lý kém hiệu quả nhất, có nhiều tiêu cực, lãng phí.
Chủ trương sắp xếp lại nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của khối doanh nghiệp nhà nước được tiến hành quá chậm, đến hết năm 2006 cả nước mới cổ phần hoá được khoảng 3.000 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp với số vốn chỉ chiếm khoảng 12% tổng số vốn trong doanh nghiệp nhà nước (nếu trừ đi số vốn nhà nước còn giữ lại gần 50% thì thực chất tỷ lệ trên chỉ khoảng 9%). (ii) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: hiện có hơn 5.