Tổng quan nghiên cứu

Nghề công tác xã hội giữ vai trò nòng cốt trong việc trợ giúp các nhóm yếu thế, giải quyết bất bình đẳng và củng cố hệ thống an sinh xã hội. Theo thống kê của Cục Bảo trợ xã hội năm 2010, cả nước có 65.046 cán bộ, viên chức làm việc trong lĩnh vực xã hội, nhưng chỉ có 28,5% (tương đương 18.514 người) đạt trình độ cao đẳng hoặc đại học trở lên, trong khi 71,5% (46.532 người) chưa qua đào tạo chuyên môn bài bản hoặc chỉ tham gia các lớp bồi dưỡng ngắn hạn. Nhằm chuẩn hóa hoạt động này, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010–2020 (Đề án 32) và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 34/2010/TT-BLĐTBXH quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức công tác xã hội.

Tuy nhiên, trong thực tiễn, cái nhìn của xã hội và của chính những người đang làm công tác xã hội vẫn còn nhiều sự mơ hồ, thường bị đồng nhất với hoạt động từ thiện tự phát. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội của tác giả Đặng Thị Thanh Thủy, dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Trần Thị Minh Đức tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: phân tích thực trạng thái độ nghề nghiệp của nhân viên xã hội thông qua 3 thành tố nhận thức, cảm xúc, hành vi, đồng thời xác định các yếu tố chi phối.

Nghiên cứu được triển khai từ tháng 3/2013 đến tháng 7/2013 tại tỉnh Lâm Đồng – địa phương có 104.000 người khuyết tật (chiếm 8,6% dân số) và khoảng 63.600 người có vấn đề sức khỏe tâm thần (chiếm 5,3% dân số). Kết quả nghiên cứu là căn cứ khoa học quan trọng giúp nâng tỷ lệ nhân viên xã hội có thái độ chuyên nghiệp lên trên 85%, đồng thời cải thiện chất lượng cung cấp dịch vụ an sinh tại các cơ sở trợ giúp xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng mô hình cấu trúc thái độ 3 thành tố kinh điển của M. Smith (năm 1942), xác định thái độ nghề nghiệp là sự tích hợp biện chứng giữa nhận thức (sự hiểu biết về bản chất, nguyên tắc nghề), cảm xúc (mức độ gắn bó, tự hào, sự đồng cảm) và hành vi (cách thức ứng xử, kỹ năng tác nghiệp thực tế).

Bên cạnh đó, tác giả ứng dụng Thuyết hành vi của B.F. Skinner và Albert Bandura. Trong đó, luận điểm củng cố hành vi qua tưởng thưởng – xử phạt của Skinner và lý thuyết học tập quan sát kết hợp khái niệm hiệu quả cá nhân của Bandura được dùng để giải thích cách nhân viên xã hội tiếp thu các chuẩn mực đạo đức thông qua môi trường làm việc thực tế.

Đồng thời, Thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget được sử dụng nhằm làm rõ quá trình nhân viên xã hội chủ động kiến tạo, điều chỉnh tri thức nghề nghiệp thông qua hoạt động tương tác liên tục với thân chủ và đồng nghiệp. Khung lý thuyết của luận văn bao quát 4 khái niệm cốt lõi: công tác xã hội chuyên nghiệp, nhân viên xã hội chuyên nghiệp (được đào tạo bài bản từ trình độ cao đẳng, đại học chuyên ngành), nhân viên xã hội bán chuyên nghiệp (chưa qua đào tạo chính quy nhưng đang đảm nhiệm vị trí trợ giúp), và hệ thống giá trị đạo đức nghề nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn tiếp cận theo phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, bảo đảm tính toàn diện, cụ thể và phát triển trong việc xem xét thái độ của nhân viên xã hội. Về phương pháp thu thập dữ liệu, tác giả thực hiện nghiên cứu định tính chuyên sâu với cỡ mẫu gồm 22 cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc (2 cuộc với lãnh đạo quản lý và 20 cuộc với nhân viên xã hội gồm 8 người chuyên nghiệp, 12 người bán chuyên nghiệp).

Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu mục đích tại 3 cơ sở đại diện cho các mảng can thiệp khác nhau ở Lâm Đồng: Trung tâm Bảo trợ Xã hội tỉnh Lâm Đồng (nơi nuôi dưỡng 100 đối tượng yếu thế với 10 nhân viên trực tiếp), Trung tâm 0506 Huyện Đức Trọng (cơ sở cai nghiện chữa bệnh với 336 học viên và 12 nhân viên xã hội), và Hội Chữ thập đỏ tỉnh Lâm Đồng (cơ quan thường trực cấp tỉnh với 15 cán bộ phụ trách). Mỗi cuộc phỏng vấn sâu kéo dài từ 1,5 đến 2 giờ với hệ thống 26 câu hỏi mở.

Để kiểm chứng chéo và đào sâu thông tin, nghiên cứu tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm tập trung (1 nhóm 7 người và 1 nhóm 10 người), kết hợp phương pháp quan sát không tham dự tại nơi làm việc và phân tích tài liệu thứ cấp. Lý do lựa chọn phương pháp định tính là nhằm khai thác sâu các tầng bậc cảm xúc, suy nghĩ nội tâm và các vấn đề đạo đức nhạy cảm mà bảng câu hỏi định lượng thông thường khó đo lường chính xác. Dữ liệu băng ghi âm được gỡ băng toàn văn, mã hóa theo chủ đề trên phần mềm Microsoft Excel và tiến hành định lượng hóa dữ liệu định tính để rút ra các kết luận logic trong khoảng thời gian khảo sát thực địa từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra sự bị động rất lớn trong việc lựa chọn nghề. Có đến 85% nhân viên xã hội (17/20 người) không tìm hiểu thông tin về ngành nghề trước khi đăng ký học hoặc đi làm. Trong nhóm nhân viên xã hội chuyên nghiệp, 75% (15/20 người) thừa nhận chọn thi vào ngành chỉ vì suy nghĩ điểm chuẩn đầu vào thấp hoặc chọn nơi làm việc chỉ vì cơ quan nhà nước tiếp nhận mà không đòi hỏi chi phí tiêu cực, thay vì xuất phát từ đam mê hay sự hiểu biết về sứ mệnh xã hội.

Thứ hai, nhận thức về bản chất công tác xã hội có sự phân hóa mạnh mẽ. Khoảng 70% người tham gia khảo sát (14/20 người) đã định hình đúng bản chất của nghề là hỗ trợ thân chủ tự nâng cao năng lực để tự giải quyết vấn đề, phân biệt rõ với việc làm từ thiện ban phát đơn thuần. Tuy nhiên, vẫn còn 15% nhân viên bán chuyên nghiệp (3/20 người) hoàn toàn mơ hồ về vai trò của mình, làm việc hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm cảm tính mà không thể gọi tên phương pháp can thiệp.

Thứ ba, sự thấu hiểu và thực hành chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp có khoảng cách sâu sắc giữa hai nhóm đối tượng. Có 87,5% nhân viên chuyên nghiệp (7/8 người) nhận thức rõ và áp dụng 3 nguyên tắc nền tảng: tôn trọng thân chủ, bảo mật thông tin và tôn trọng quyền tự quyết. Ngược lại, đa số nhân viên bán chuyên nghiệp có xu hướng nhầm lẫn các nguyên tắc đạo đức với những đức tính cá nhân thông thường như thật thà, nhẫn nại, thương người.

Thứ tư, hiệu quả đào tạo nội bộ đóng vai trò quyết định đến thái độ nghề nghiệp. Tại Trung tâm 0506 và Hội Chữ thập đỏ, nơi có 4 cử nhân công tác xã hội chính quy và thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn định kỳ (seminar), 100% nhân viên (kể cả nhóm bán chuyên nghiệp) đều nhận thức đúng các chuẩn mực đạo đức. Ngược lại, tại Trung tâm Bảo trợ Xã hội tỉnh (chỉ có 1 cán bộ trình độ cao đẳng công tác xã hội và thiếu sinh hoạt chuyên môn), có tới 7/9 nhân viên không phân biệt được nguyên tắc nghề nghiệp với phẩm chất cá nhân.

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa về thái độ và nhận thức đạo đức nghề nghiệp bắt nguồn từ sự thiếu hụt các chương trình đào tạo chuẩn hóa, rào cản từ điều kiện cơ sở vật chất (như phòng tư vấn thiếu cách âm làm ảnh hưởng đến nguyên tắc bảo mật thông tin), và mâu thuẫn giữa quy chế quản lý hành chính với nguyên tắc bảo đảm quyền tự quyết của thân chủ. Dữ liệu nghiên cứu định tính khi được tổng hợp có thể trình bày trực quan qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ nắm vững chuẩn mực đạo đức (nhóm chuyên nghiệp đạt 87,5% so với mức dưới 50% ở nhóm bán chuyên nghiệp) hoặc qua bảng ma trận tương quan giữa tần suất sinh hoạt chuyên đề nội bộ với mức độ tuân thủ nguyên tắc can thiệp tại từng đơn vị.

Kết quả này hoàn toàn tương thích với các công trình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam, tiêu biểu như khảo sát năm 2005 của nhóm nghiên cứu liên trường trên 329 cán bộ xã hội và luận văn năm 2012 của tác giả Trần Thanh Hương tại Hà Nội, khi đều chỉ ra rằng phần lớn cán bộ xã hội có tinh thần cống hiến cao nhưng thiếu hụt nền tảng lý thuyết và kỹ năng chuyên môn sâu. Đồng thời, nghiên cứu củng cố luận điểm của Albert Bandura về việc nhân viên xã hội học tập hành vi nghề nghiệp thông qua quan sát đồng nghiệp có chuyên môn và các buổi trao đổi nhóm, chứng minh rằng hoạt động kiểm huấn nội bộ là giải pháp cốt lõi để nâng cao năng lực thực hành.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực tế, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:

Thứ nhất, chuẩn hóa ngạch bậc và đào tạo bồi dưỡng chuyên môn định kỳ. Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Lâm Đồng cần phối hợp cùng các trường đại học chuyên ngành xây dựng kế hoạch bồi dưỡng bắt buộc, triển khai tối thiểu 4 khóa tập huấn nghiệp vụ mỗi năm. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ nhân viên xã hội tại các cơ sở bảo trợ và trung tâm cai nghiện đạt chuẩn chức danh nghề nghiệp lên mức 85% trong giai đoạn 2014–2016.

Thứ hai, thiết lập cơ chế kiểm huấn và nhân rộng mô hình sinh hoạt chuyên môn nội bộ. Ban giám đốc các cơ sở xã hội cần phân công các nhân viên xã hội chuyên nghiệp làm nòng cốt, duy trì lịch sinh hoạt chuyên đề tối thiểu 2 lần mỗi tháng nhằm giải quyết các ca can thiệp khó và chia sẻ kinh nghiệm xử lý khủng hoảng tâm lý. Mô hình seminar chuyên môn thành công tại Trung tâm 0506 cần được chuyển giao và áp dụng cho 100% các trung tâm bảo trợ công lập và ngoài công lập trên địa bàn tỉnh trong vòng 12 tháng.

Thứ ba, đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và hoàn thiện phòng tham vấn chuyên biệt. Đơn vị quản lý cơ sở cần trích lập ngân sách để thiết kế lại không gian làm việc, bảo đảm 100% phòng tư vấn – tham vấn tâm lý đạt tiêu chuẩn riêng tư, cách âm tốt và bài trí thân thiện. Biện pháp này giúp bảo vệ tuyệt đối nguyên tắc bảo mật thông tin và tôn trọng phẩm giá của thân chủ theo đúng quy định quốc tế.

Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông định vị nghề nghiệp và tăng cường chế độ đãi ngộ. Ủy ban nhân dân tỉnh cùng các cơ quan truyền thông cần xây dựng các chiến dịch truyền thông cộng đồng định kỳ 6 tháng một lần để nâng cao nhận thức của người dân về giá trị của công tác xã hội. Song song đó, các cơ quan ban ngành cần tham mưu chính sách tăng phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp từ mức 15% lên 30% đối với nhân sự trực tiếp can thiệp tâm lý, hỗ trợ giảm thiểu hiện tượng quá tải cảm xúc và nguy cơ bỏ việc của nhân viên xã hội.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các nhà lãnh đạo và cán bộ quản lý tại các trung tâm bảo trợ xã hội, cơ sở cai nghiện, mái ấm và nhà mở. Nhóm này có thể ứng dụng trực tiếp các phát hiện của luận văn để xây dựng quy chế làm việc chuẩn mực, thiết lập hệ thống kiểm huấn nội bộ và bố trí nhân sự phù hợp giữa nhóm chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp.

Nhóm thứ hai là giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội, Tâm lý học, Xã hội học. Luận văn cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị về phương pháp nghiên cứu định tính, hệ thống chỉ báo đo lường thái độ và bức tranh thực tế về nghề nghiệp tại khu vực Tây Nguyên.

Nhóm thứ ba là đội ngũ nhân viên xã hội, cộng tác viên công tác xã hội cấp xã/phường và cán bộ dự án an sinh. Luận văn giúp người làm nghề tự soi chiếu nhận thức, nâng cao kỹ năng kiểm soát cảm xúc, nhận diện các ranh giới đạo đức và thực hành tốt các nguyên tắc bảo mật, chấp nhận thân chủ.

Nhóm thứ tư là các chuyên gia hoạch định chính sách tại các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, cơ quan an sinh xã hội cấp tỉnh và trung ương. Tài liệu cung cấp các luận cứ thực chứng phục vụ việc đánh giá hiệu quả triển khai Đề án 32, từ đó điều chỉnh các chính sách đào tạo, tuyển dụng và đãi ngộ viên chức công tác xã hội phù hợp với thực tiễn.

Câu hỏi thường gặp

Cấu trúc thái độ của nhân viên xã hội đối với nghề nghiệp được xác định như thế nào?
Thái độ của nhân viên xã hội được cấu thành bởi 3 thành tố tương hỗ chặt chẽ theo mô hình của M. Smith: nhận thức (hiểu biết đúng đắn về bản chất và nguyên tắc nghề), cảm xúc (tình yêu thương con người, niềm tự hào và sự gắn bó với nghề), cùng hành vi (kỹ năng can thiệp, tính chuẩn mực khi tương tác với thân chủ).

Sự khác biệt rõ nét nhất giữa nhân viên chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp trong nghiên cứu là gì?
Nhân viên chuyên nghiệp có khả năng nhận diện và thực hành chuẩn xác các quy tắc đạo đức cốt lõi như bảo mật, tôn trọng quyền tự quyết (đạt tỷ lệ 87,5%). Trong khi đó, nhân viên bán chuyên nghiệp chủ yếu hành động dựa trên kinh nghiệm cá nhân và thường nhầm lẫn nguyên tắc đạo đức với các đức tính cá nhân như ân cần, thật thà.

Vì sao việc duy trì nguyên tắc giữ bí mật và quyền tự quyết lại gặp nhiều rào cản trong thực tế?
Thực tế tại các cơ sở cho thấy không gian phòng tư vấn thường thiếu tính riêng tư, cách âm kém khiến người ngoài dễ nghe thấy nội dung trò chuyện. Đồng thời, áp lực từ mệnh lệnh quản trị của lãnh đạo hoặc quy chế kỷ luật nội bộ đôi khi mâu thuẫn trực tiếp với mong muốn tự quyết của thân chủ.

Mô hình sinh hoạt chuyên môn tại Trung tâm 0506 mang lại bài học kinh nghiệm gì?
Mô hình tổ chức seminar định kỳ do 4 cử nhân công tác xã hội chủ trì giúp phổ biến nền tảng lý thuyết và kỹ năng xử lý ca cho toàn bộ đội ngũ nhân viên bán chuyên nghiệp. Việc học tập quan sát này giúp 100% cán bộ tại đơn vị nâng cao đáng kể nhận thức đạo đức nghề nghiệp.

Nguyên nhân chính khiến đa số nhân viên xã hội lựa chọn nghề một cách thụ động là gì?
Khoảng 85% nhân viên được khảo sát thừa nhận thiếu thông tin hướng nghiệp do công tác xã hội khi đó là ngành nghề mới tại Việt Nam. Đa phần người học chọn ngành vì điểm xét tuyển đại học phù hợp hoặc tìm kiếm một vị trí việc làm ổn định trong cơ quan nhà nước sau khi tốt nghiệp.

Kết luận

  1. Luận văn đã phân tích toàn diện thái độ của nhân viên xã hội tỉnh Lâm Đồng đối với nghề nghiệp qua 3 thành tố nhận thức, cảm xúc, hành vi, chỉ ra khoảng cách năng lực đáng kể giữa nhân viên chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp.
  2. Tác phẩm làm rõ thực trạng 85% nhân sự đến với nghề một cách thụ động, đồng thời khẳng định lòng yêu nghề và tinh thần cống hiến là động lực lớn nhất giúp họ gắn bó với các nhóm thân chủ yếu thế.
  3. Nghiên cứu chứng minh rằng hoạt động sinh hoạt chuyên môn nội bộ định kỳ có tác động tích cực vượt trội trong việc chuẩn hóa nhận thức đạo đức nghề nghiệp tại các cơ sở an sinh.
  4. Hệ thống 4 nhóm giải pháp đã được đề xuất với lộ trình rõ ràng, chú trọng đào tạo ngạch bậc, thiết lập kiểm huấn, nâng cấp phòng tham vấn và cải thiện phụ cấp nghề nghiệp.
  5. Luận văn là tài liệu tham khảo thiết thực, đóng góp quan trọng vào quá trình triển khai Đề án phát triển nghề công tác xã hội tại địa phương trong giai đoạn tiếp theo.

Các cơ sở xã hội và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác các mô hình kiểm huấn và giải pháp quản trị nhân sự từ luận văn để tối ưu hóa hiệu quả trợ giúp xã hội ngay hôm nay.