Chương 1. Sự hình thành quan hệ triều cống giữa Đại Việt với Trung Quốc trong giai đoạn thế kỉ XV-XVI. Hoạt động triều cống giữa Đại Việt với Trung Quốc trong giai đoạn thế kỉ XV-XVI. Một vài nhận xét về quan hệ triều cống Đại Việt – Trung Quốc thế kỉ XV-XVI 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
SỰ HÌNH THÀNH QUAN HỆ TRIỀU CỐNG GIỮA ĐẠI VIỆT VỚI TRUNG QUỐC TRONG GIAI ĐOẠN THẾ KỈ XV-XVI 1. Khái quát về quan hệ triều cống giữa Đại Việt với Trung Quốc trƣớc thế kỉ XV 1. Giai đoạn trước thế kỉ XIII *Khái niệm “cống’’, “triều cống’’ Cống: trong tiếng Hán, từ “cống’’ có nghĩa là “dâng lên’’, “dâng biếu’’. Khái niệm này được hiểu là hành động của kẻ dưới dâng quà, tài sản, tiền bạc, phương vật…lên cho bề trê, cấp trên.
Triều cống: khái niệm “triều cống’’ trong tiếng Hán gồm hai từ: “triều’’ chỉ triều đình và “cống’’ là dâng lên, dâng biếu. Khái niệm này được dùng để chỉ việc một nước nhỏ đem dâng phẩm vật cho nước lớn, hoặc một nước chư hầu đem dâng phẩm vật lên nhà vua. Chế độ triều cống gắn với chế độ phân phong thời Tây Chu. Theo đó, vua các nước chư hầu nhà Chu có nghĩa vụ hàng năm đến chầu và nộp cống cho triều đình.
Đây là nguồn gốc của chế độ triều cống mà sau này các vương triểu phong kiến Trung Quốc áp dụng với các nước xung quanh. Trung Quốc là quốc gia được hình thành từ rất sớm, vào khoảng thế kỷ XXI TCN. Ngay từ nhà Hạ, người Hán đã tự coi mình là dân tộc thượng đẳng, quốc gia mình là trung tâm của vũ trụ, trung tâm của thiên hạ. Tư tưởng “ngũ phương nhị tằng” sớm hình thành và phát triển trong giai cấp thống trị Trung Quốc suốt các triều đại phong kiến.
Theo tư tưởng đó, vua của người Hán được coi là Thiên tử (con trời), có nhiều quyền hành, được mọi người tôn sùng và phục vụ, dưới gầm trời này không đâu không là đất của vua, tất cả trên mặt đất không ai không là tôi tớ của vua. Người Trung Quốc coi các dân tộc xung quanh mình là hạ đẳng, là “nhung”, “di”, “man”, “địch”, là các nước phiên thần, chư hầu, có nhiệm vụ thần phục Thiên tử. Theo truyền thuyết và nhiều sử sách ghi chép lại thì Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ từ thời cổ đại. Tuy nhiên, quan hệ bang giao chính thức giữa hai nước chỉ được thiết lập khi người Việt có chính quyền tự chủ, thoát khỏi ách thống 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trị của người Hán.
Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý đã thiết lập và từng bước tăng cường mối quan hệ với các nước láng giềng, nhất là với Trung Quốc. Cùng với hoạt động cầu phong, phía Đại Việt còn thực hiện việc qua lại, thăm hỏi với các triều đại phong kiến Trung Hoa. Lịch triều Hiến chương loại chí đã ghi chép lại sự kiện vua Đinh sai người sang Trung Quốc: “Đinh Tiên Hoàng, năm Thái Bình thứ 7 (976) (ngang với năm Khai bảo thứ 9 đời Tống Thái Tổ), sai Trần Nguyên Thái sang thăm lại (báo sính) nhà Tống [4, tr. Mục đích của chuyến thăm hỏi này nhằm đáp lại việc nhà Tống sang sách phong cho vua Đinh.
Bên cạnh đó, dưới thời Đinh, chỉ có thêm một sự kiện khác vào năm 977, khi vua Đinh sai sứ sang mừng vua Tống Thái Tông lên ngôi. Từ thế kỉ X đến trước thế kỉ XIII, các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý đều cử người sang sứ nhà Tống. Quan hệ giữa hai nước trong khoảng thời gian này chưa được gọi cụ thể là “triều cống’’ mà ban đầu chỉ dừng lại ở mức đi lại thăm hỏi, tặng quà lẫn nhau giữa hai quốc gia, trong đó chủ yếu xuất phát từ phía Đại Việt. Hoạt động chủ yếu là nhà Tống sai người sang thăm Đại Việt và Đại Việt cử người sang đáp lễ nhà Tống.
Theo thống kê trong Đại Việt sử ký toàn thư, từ triều Đinh đến triều Lý, phía Đại Việt đã liên tục cử người sang Trung Quốc để thăm hỏi, tặng quà, mừng lên ngôi, tạ ơn… Trong đó, dưới triều Đinh, Đại Việt đã hai lần cử sứ giả sang Trung Quốc thăm hỏi và mừng vua Tống lên ngôi. Dưới triều Tiền Lê, vua Lê cử người sang thăm nhà Tống vào các năm 983, 985, 986, 995. Mục đích của những chuyến đi này là nhằm thông hiếu khi triều đại mới được thành lập, chủ động sang thăm nhà Tống và sang thăm lại khi vua Tống cử người sang Đại Việt. Dưới triều Lý, hoạt động qua lại thăm hỏi, tặng quà giữa hai nước có bước chuyển biến quan trọng.
Ngoài việc vua Lý cử sứ giả sang nhà Tống kết hiếu, thăm hỏi còn diễn ra hoạt động tặng quà, hiến sản vật. Trong suốt thời kỳ tồn tại của vương triều Lý, Đại Việt đã ba lần sang kết hiếu với nhà Tống vào các năm 1012, 1026 và 1039; có 5 lần vua Lý cử người sang thăm và thăm lại nhà Tống vào các năm 1011, 1030, 1064, 1130 và 1164. Ngoài những hoạt động này còn diễn ra thêm những hoạt động khác như cử người sang báo tin thắng trận, đem sản vật sang hiến nhà Tống. Thành phần cống phẩm được đem đi thường bao gồm ngựa man, voi, tê 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngưu đen, tê ngưu trắng, đồ dùng bằng vàng, bạc… Sự kiện đầu tiên khi nhà Lý sang tặng quà cho nhà Tống là vào năm 1014: “.tướng của người Man là Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí đem 20 vạn người Man vào cướp, đóng đồn ở bến Kim Hoa, dàn bày quân dinh, gọi là trại Ngũ Hoa.
Châu mục châu Bình Lâm là Hoàng Ân Vĩnh đem việc ấy tâu lên. Vua sai Dực Thánh Vương đem quân đi đánh, chém được hơn 1 vạn đầu, bắt sống được quân lính và ngựa không kể xiết. Xuống chiếu cho Viên ngoại lang là Phùng Chân và Lý Thạc đem một trăm con ngựa Man bắt được sang biếu nhà Tống” [29, tr. Từ đó về sau, vào những dịp nhất định, vua Lý lại sai người đem voi sang hiến nhà Tống.
Lệ cống voi trở thành truyền thống và liên tục được thực hiện. Đến thời vua Lý Anh Tông, lệ này mới dần giảm bớt và được thay thế bằng việc đem vàng, bạc, tiền giấy và các loại hương liệu phụ thêm vào do việc cống voi gặp nhiều khó khăn trên con đường sang nhà Tống. Như vậy, giai đoạn trước thế kỉ XIII, giữa Đại Việt và Trung Quốc đã có mối qua lại với nhau. Tuy nhiên, hoạt động tiến cống trong thời gian này chưa được quy định rõ ràng.
Mục đích của những chuyến đi sứ là thăm hỏi, tạ ơn, mừng lên ngôi, báo tin thắng trận… Lễ vật được mang theo trong những chuyến đi này thường là voi, tê ngưu, ngựa, vàng, bạc, tiền giấy, hương liệu… Những hoạt động này là cơ sở góp phần duy trì mối quan hệ giữa hai nước và thúc đẩy hoạt động tiến cống giữa Đại Việt với Trung Quốc thời gian tiếp theo. Nhận xét về hoạt động tiến cống trong thời gian này, Phan Huy Chú viết: “Từ nhà Lý nhà Lê về trước, tuy ta vẫn thần phục Trung Quốc, nhưng kỳ cống hiến chưa định hạn năm; chỉ sau khi được sách phong, mới có lễ báo sính (thăm lại, hoặc khi giao hiếu, khi báo tin thắng trận, thì mới có sứ đi lại). Về số lễ vật, tuy không khảo xét tường tận, những thấy chép trong sử thì cũng có thể biết đại khái [4, tr. Giai đoạn từ thế kỉ XIII đến đầu thế kỉ XV * Dưới triều Trần: Trong mối quan hệ với Trung Quốc, Đại Việt thời Trần có sự khác biệt so với các triều đại trước đó: cùng lúc thực hiện mối quan hệ với Nam Tống và Mông Cổ (sau là nhà Nguyên).
Vào những năm cuối vương triều, triều Trần còn xác lập quan hệ bang giao với nhà Minh. Đối với mỗi vương triều phong kiến Trung Quốc, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triều Trần lại có những chính sách khác nhau trong việc duy trì mối quan hệ, trong đó, vấn đề triều cống, thăm hỏi cũng có những khác biệt. Với Nam Tống: quan hệ ngoại giao đã được các triều đại trước của Đại Việt thiết lập và duy trì. Nếu như các triều đại trước duy trì việc cầu phong, triều cống đều đặn với nhà Tống thì đến triều Trần, vấn đề triều cống lại không được thực hiện thường xuyên.
Phải ba năm sau khi thiết lập vương triều, tức năm 1229, vua Trần Thái Tông mới sai sứ sang thăm nước Tống, mục đích của chuyến đi này chỉ là thăm hỏi qua lại giữa hai quốc gia. Đến năm 1258, nhà Trần tiếp tục sai sứ sang thông hiếu với nhà Tống. Ghi chép về những chuyến đi sứ của sứ thần triều Trần sang Nam Tống rất hạn chế, chỉ nói chung chung là sang thăm hỏi hay thông hiếu chứ không nói rõ về vấn đề triều cống. Triều Trần hầu như không thực hiện triều cống đối với Nam Tống.
Sở dĩ có hiện tượng này là do xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, Nam Tống đang tập trung toàn bộ lực lượng để đối phó với Mông Cổ nhằm bảo vệ lãnh thổ. Triều Nam Tống không kiểm soát được vùng biên giới tiếp giáp với Đại Việt nên con đường thông sứ của Đại Việt với Nam Tống gặp nhiều khó khăn. Thậm chí có những thời điểm, sứ thần triều Trần phải mất nhiều thời gian để sang đến nhà Tống, con đường đi sứ trở nên xa xôi và hiểm trở hơn.
Thứ hai, Nam Tống đang đứng trước nguy cơ bị Mông Cổ xâm lược, do lo sợ triều Trần liên minh với Mông cổ nên triều đình Nam Tống chủ động giữ hòa khí, chủ động phong vương cho vua Trần mà không đả động gì đến vấn đề triều cống. Mục đích của việc làm này là nhằm duy trì mối quan hệ giữa hai nước, giảm thiểu nguy cơ triều Trần liên minh với Mông Cổ chống lại nhà Tống. Chính vì vậy, đối với triều Nam Tống, việc cử sứ giả sang thăm hỏi và dâng tặng một số vật phẩm của triều Trần là hành động tự nguyện, không tuân theo bất kỳ một quy định nào và không chịu áp lực từ phía triều Nam Tống. Hoạt động thăm hỏi giữa hai nước trong thời điểm này mang tính chất lễ sính hơn là triều cống.
Với Mông Cổ (sau là nhà Nguyên): cùng với việc duy trì mối quan hệ với Nam Tống, triều Trần cũng thiết lập mối quan hệ với nhà Nguyên. Mặc dù thất bại trong cuộc xâm lược Đại Việt năm 1258 nhưng triều đình Mông Cổ cũng nhanh 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.