Nghiên cứu quan hệ triều cống giữa Đại Việt và Minh trong thế kỷ XV-XVI

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh quan hệ triều cống đại việt minh thế kỉ xv xvi, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn.

Chuyên ngành

Lịch Sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2016

117
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Mục tiêu nghiên cứu

1.5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

1.6. Đóng góp chủ yếu của luận văn

2. SỰ HÌNH THÀNH QUAN HỆ TRIỀU CỐNG GIỮA ĐẠI VIỆT VỚI TRUNG QUỐC TRONG GIAI ĐOẠN THẾ KỈ XV-XVI

2.1. Khái quát về quan hệ triều cống giữa Đại Việt với Trung Quốc trước thế kỉ XV

2.2. Giai đoạn trước thế kỉ XIII

2.3. Giai đoạn từ thế kỉ XIII đến đầu thế kỉ XV

2.4. Bối cảnh Đại Việt trong thế kỉ XV-XVI

2.4.1. Tình hình chính trị - quân sự

2.4.2. Tình hình kinh tế

2.5. Trung Quốc dưới thời nhà Minh (thế kỉ XV-XVI)

2.5.1. Tình hình chính trị - quân sự

2.5.2. Tình hình kinh tế

2.5.3. Tình hình văn hóa – tư tưởng

2.6. Tiểu kết chương 1

3. HOẠT ĐỘNG TRIỀU CỐNG GIỮA ĐẠI VIỆT VỚI TRUNG QUỐC TRONG THẾ KỈ XV-XVI

3.1. Hoạt động triều cống giữa triều Lê sơ với nhà Minh

3.1.1. Lệ cống và cống phẩm

3.1.2. Lộ trình đi sứ

3.1.3. Thành phần sứ đoàn

3.1.4. Những hoạt động triều cống chủ yếu

3.2. Hoạt động triều cống giữa nhà Mạc với triều Minh

3.2.1. Lệ cống và cống phẩm

3.2.2. Lộ trình đi sứ

3.2.3. Thành phần sứ đoàn

3.2.4. Những hoạt động triều cống chủ yếu

3.3. Tiểu kết chương 2

4. MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ QUAN HỆ TRIỀU CỐNG ĐẠI VIỆT – TRUNG QUỐC THẾ KỈ XV-XVI

4.1. Mục đích thiết lập quan hệ triều cống

4.1.1. Về phía Đại Việt

4.1.2. Về phía nhà Minh

4.2. Quá trình thiết lập và duy trì quan hệ triều cống

4.2.1. Đại Việt gặp khó khăn trong quá trình thiết lập quan hệ triều cống với nhà Minh

4.2.2. Đại Việt duy trì quan hệ triều cống với nhà Minh trong thế kỉ XV-XVI

4.3. Kết quả, ý nghĩa của quan hệ triều cống

4.3.1. Góp phần duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa hai quốc gia

4.3.2. Đại Việt và nhà Minh đều đạt được những lợi ích nhất định thông qua hoạt động triều cống

4.3.3. Thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa giữa hai quốc gia

4.4. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quan hệ triều cống Đại Việt Minh thế kỷ XV XVI

Quan hệ triều cống giữa Đại Việtnhà Minh trong thế kỷ XV-XVI là một phần quan trọng trong lịch sử ngoại giao của Việt Nam. Thời kỳ này, triều cống không chỉ là hình thức giao tiếp chính trị mà còn phản ánh sự tương tác văn hóa và kinh tế giữa hai quốc gia. Đại Việt đã duy trì mối quan hệ này để bảo vệ độc lập và chủ quyền, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế và văn hóa. Nghiên cứu về quan hệ này giúp hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử và những thách thức mà Đại Việt phải đối mặt trong việc duy trì hòa bình với Trung Quốc.

1.1. Bối cảnh lịch sử của quan hệ triều cống

Trong thế kỷ XV, Đại Việt phải đối mặt với nhiều thách thức từ nhà Minh. Sự phục hưng của nhà Minh sau thời kỳ Nguyên đã tạo ra một môi trường chính trị phức tạp. Đại Việt cần thiết lập quan hệ triều cống để duy trì hòa bình và ổn định. Việc này không chỉ giúp Đại Việt tránh được xung đột mà còn tạo cơ hội cho sự phát triển kinh tế và văn hóa.

1.2. Ý nghĩa của quan hệ triều cống trong lịch sử

Quan hệ triều cống giữa Đại Việtnhà Minh không chỉ là một hình thức ngoại giao mà còn là một phần quan trọng trong việc xây dựng bản sắc văn hóa. Triều cống đã giúp Đại Việt duy trì mối quan hệ hòa bình với Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy giao lưu văn hóa và kinh tế. Điều này đã góp phần tạo nên một nền tảng vững chắc cho sự phát triển của Đại Việt trong các thế kỷ tiếp theo.

II. Vấn đề và thách thức trong quan hệ triều cống Đại Việt Minh

Mặc dù quan hệ triều cống giữa Đại Việtnhà Minh mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng không thiếu những thách thức. Đại Việt phải đối mặt với áp lực từ nhà Minh trong việc thực hiện các nghĩa vụ triều cống. Sự khác biệt về văn hóa và chính trị cũng tạo ra những khó khăn trong việc duy trì mối quan hệ này. Nghiên cứu về những vấn đề này giúp hiểu rõ hơn về cách mà Đại Việt đã ứng phó với các thách thức trong quan hệ ngoại giao.

2.1. Áp lực từ nhà Minh đối với Đại Việt

Trong quá trình duy trì quan hệ triều cống, Đại Việt thường xuyên phải đối mặt với áp lực từ nhà Minh. Các yêu cầu về cống phẩmlệ cống thường xuyên thay đổi, tạo ra những khó khăn cho Đại Việt trong việc đáp ứng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế mà còn đến chính trị của Đại Việt.

2.2. Sự khác biệt văn hóa và chính trị

Sự khác biệt về văn hóa và chính trị giữa Đại Việtnhà Minh cũng là một thách thức lớn. Đại Việt cần phải khéo léo trong việc điều chỉnh các chính sách đối ngoại để phù hợp với yêu cầu của nhà Minh mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa riêng. Việc này đòi hỏi sự khéo léo và tinh tế trong các hoạt động ngoại giao.

III. Phương pháp duy trì quan hệ triều cống giữa Đại Việt và Minh

Để duy trì quan hệ triều cống, Đại Việt đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các triều đại như Lê sơMạc đã có những chiến lược riêng để đảm bảo mối quan hệ này luôn được duy trì. Việc cử sứ thần đi cống và thực hiện các nghi thức ngoại giao là những phương pháp quan trọng trong việc duy trì mối quan hệ này.

3.1. Cử sứ thần đi cống

Cử sứ thần đi cống là một trong những phương pháp quan trọng mà Đại Việt sử dụng để duy trì quan hệ với nhà Minh. Các sứ thần không chỉ mang theo cống phẩm mà còn thực hiện các nghi thức ngoại giao, thể hiện sự tôn trọng đối với nhà Minh. Điều này giúp củng cố mối quan hệ giữa hai quốc gia.

3.2. Thực hiện các nghi thức ngoại giao

Các nghi thức ngoại giao được thực hiện một cách nghiêm ngặt trong quan hệ triều cống. Đại Việt đã xây dựng một hệ thống nghi thức rõ ràng để thể hiện sự tôn trọng đối với nhà Minh. Những nghi thức này không chỉ giúp duy trì mối quan hệ hòa bình mà còn thể hiện bản sắc văn hóa của Đại Việt.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quan hệ triều cống

Nghiên cứu về quan hệ triều cống giữa Đại Việtnhà Minh không chỉ mang lại những hiểu biết lịch sử mà còn có giá trị thực tiễn trong việc xây dựng chính sách ngoại giao hiện nay. Những bài học từ quá khứ có thể được áp dụng để giải quyết các vấn đề trong quan hệ quốc tế hiện đại. Việc duy trì mối quan hệ hòa bình và ổn định với các quốc gia láng giềng vẫn là một thách thức lớn.

4.1. Bài học từ quan hệ triều cống

Nghiên cứu về quan hệ triều cống giữa Đại Việtnhà Minh cung cấp nhiều bài học quý giá cho chính sách ngoại giao hiện nay. Việc duy trì mối quan hệ hòa bình và ổn định với các quốc gia láng giềng là rất quan trọng. Những bài học này có thể giúp Việt Nam trong việc xây dựng chính sách đối ngoại hiệu quả.

4.2. Tác động đến chính sách ngoại giao hiện đại

Các nghiên cứu về quan hệ triều cống có thể giúp Việt Nam trong việc xây dựng chính sách ngoại giao hiện đại. Việc học hỏi từ những kinh nghiệm trong quá khứ sẽ giúp Việt Nam duy trì mối quan hệ tốt đẹp với các quốc gia khác, đồng thời bảo vệ độc lập và chủ quyền.

V. Kết luận và tương lai của quan hệ triều cống

Quan hệ triều cống giữa Đại Việtnhà Minh trong thế kỷ XV-XVI đã để lại nhiều bài học quý giá cho lịch sử ngoại giao của Việt Nam. Những kinh nghiệm từ quá khứ có thể được áp dụng để xây dựng một chính sách ngoại giao hiệu quả trong tương lai. Việc duy trì mối quan hệ hòa bình và ổn định với các quốc gia láng giềng vẫn là một thách thức lớn, nhưng cũng là một cơ hội để phát triển.

5.1. Tương lai của quan hệ ngoại giao Việt Nam

Tương lai của quan hệ ngoại giao Việt Nam sẽ phụ thuộc vào khả năng duy trì mối quan hệ hòa bình với các quốc gia láng giềng. Những bài học từ quan hệ triều cống có thể giúp Việt Nam xây dựng một chính sách ngoại giao hiệu quả, đồng thời bảo vệ độc lập và chủ quyền.

5.2. Định hướng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu về quan hệ triều cống giữa Đại Việtnhà Minh cần được tiếp tục để làm sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng. Việc so sánh các chính sách triều cống của các triều đại khác nhau sẽ giúp hiểu rõ hơn về sự phát triển của Đại Việt trong lịch sử. Điều này không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có ý nghĩa trong việc xây dựng chính sách ngoại giao hiện nay.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh quan hệ triều cống đại việt minh thế kỉ xv xvi

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Sự hình thành quan hệ triều cống giữa Đại Việt với Trung Quốc trong giai đoạn thế kỉ XV-XVI. Hoạt động triều cống giữa Đại Việt với Trung Quốc trong giai đoạn thế kỉ XV-XVI. Một vài nhận xét về quan hệ triều cống Đại Việt – Trung Quốc thế kỉ XV-XVI 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.

SỰ HÌNH THÀNH QUAN HỆ TRIỀU CỐNG GIỮA ĐẠI VIỆT VỚI TRUNG QUỐC TRONG GIAI ĐOẠN THẾ KỈ XV-XVI 1. Khái quát về quan hệ triều cống giữa Đại Việt với Trung Quốc trƣớc thế kỉ XV 1. Giai đoạn trước thế kỉ XIII *Khái niệm “cống’’, “triều cống’’ Cống: trong tiếng Hán, từ “cống’’ có nghĩa là “dâng lên’’, “dâng biếu’’. Khái niệm này được hiểu là hành động của kẻ dưới dâng quà, tài sản, tiền bạc, phương vật…lên cho bề trê, cấp trên.

Triều cống: khái niệm “triều cống’’ trong tiếng Hán gồm hai từ: “triều’’ chỉ triều đình và “cống’’ là dâng lên, dâng biếu. Khái niệm này được dùng để chỉ việc một nước nhỏ đem dâng phẩm vật cho nước lớn, hoặc một nước chư hầu đem dâng phẩm vật lên nhà vua. Chế độ triều cống gắn với chế độ phân phong thời Tây Chu. Theo đó, vua các nước chư hầu nhà Chu có nghĩa vụ hàng năm đến chầu và nộp cống cho triều đình.

Đây là nguồn gốc của chế độ triều cống mà sau này các vương triểu phong kiến Trung Quốc áp dụng với các nước xung quanh. Trung Quốc là quốc gia được hình thành từ rất sớm, vào khoảng thế kỷ XXI TCN. Ngay từ nhà Hạ, người Hán đã tự coi mình là dân tộc thượng đẳng, quốc gia mình là trung tâm của vũ trụ, trung tâm của thiên hạ. Tư tưởng “ngũ phương nhị tằng” sớm hình thành và phát triển trong giai cấp thống trị Trung Quốc suốt các triều đại phong kiến.

Theo tư tưởng đó, vua của người Hán được coi là Thiên tử (con trời), có nhiều quyền hành, được mọi người tôn sùng và phục vụ, dưới gầm trời này không đâu không là đất của vua, tất cả trên mặt đất không ai không là tôi tớ của vua. Người Trung Quốc coi các dân tộc xung quanh mình là hạ đẳng, là “nhung”, “di”, “man”, “địch”, là các nước phiên thần, chư hầu, có nhiệm vụ thần phục Thiên tử. Theo truyền thuyết và nhiều sử sách ghi chép lại thì Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ từ thời cổ đại. Tuy nhiên, quan hệ bang giao chính thức giữa hai nước chỉ được thiết lập khi người Việt có chính quyền tự chủ, thoát khỏi ách thống 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trị của người Hán.

Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý đã thiết lập và từng bước tăng cường mối quan hệ với các nước láng giềng, nhất là với Trung Quốc. Cùng với hoạt động cầu phong, phía Đại Việt còn thực hiện việc qua lại, thăm hỏi với các triều đại phong kiến Trung Hoa. Lịch triều Hiến chương loại chí đã ghi chép lại sự kiện vua Đinh sai người sang Trung Quốc: “Đinh Tiên Hoàng, năm Thái Bình thứ 7 (976) (ngang với năm Khai bảo thứ 9 đời Tống Thái Tổ), sai Trần Nguyên Thái sang thăm lại (báo sính) nhà Tống [4, tr. Mục đích của chuyến thăm hỏi này nhằm đáp lại việc nhà Tống sang sách phong cho vua Đinh.

Bên cạnh đó, dưới thời Đinh, chỉ có thêm một sự kiện khác vào năm 977, khi vua Đinh sai sứ sang mừng vua Tống Thái Tông lên ngôi. Từ thế kỉ X đến trước thế kỉ XIII, các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý đều cử người sang sứ nhà Tống. Quan hệ giữa hai nước trong khoảng thời gian này chưa được gọi cụ thể là “triều cống’’ mà ban đầu chỉ dừng lại ở mức đi lại thăm hỏi, tặng quà lẫn nhau giữa hai quốc gia, trong đó chủ yếu xuất phát từ phía Đại Việt. Hoạt động chủ yếu là nhà Tống sai người sang thăm Đại Việt và Đại Việt cử người sang đáp lễ nhà Tống.

Theo thống kê trong Đại Việt sử ký toàn thư, từ triều Đinh đến triều Lý, phía Đại Việt đã liên tục cử người sang Trung Quốc để thăm hỏi, tặng quà, mừng lên ngôi, tạ ơn… Trong đó, dưới triều Đinh, Đại Việt đã hai lần cử sứ giả sang Trung Quốc thăm hỏi và mừng vua Tống lên ngôi. Dưới triều Tiền Lê, vua Lê cử người sang thăm nhà Tống vào các năm 983, 985, 986, 995. Mục đích của những chuyến đi này là nhằm thông hiếu khi triều đại mới được thành lập, chủ động sang thăm nhà Tống và sang thăm lại khi vua Tống cử người sang Đại Việt. Dưới triều Lý, hoạt động qua lại thăm hỏi, tặng quà giữa hai nước có bước chuyển biến quan trọng.

Ngoài việc vua Lý cử sứ giả sang nhà Tống kết hiếu, thăm hỏi còn diễn ra hoạt động tặng quà, hiến sản vật. Trong suốt thời kỳ tồn tại của vương triều Lý, Đại Việt đã ba lần sang kết hiếu với nhà Tống vào các năm 1012, 1026 và 1039; có 5 lần vua Lý cử người sang thăm và thăm lại nhà Tống vào các năm 1011, 1030, 1064, 1130 và 1164. Ngoài những hoạt động này còn diễn ra thêm những hoạt động khác như cử người sang báo tin thắng trận, đem sản vật sang hiến nhà Tống. Thành phần cống phẩm được đem đi thường bao gồm ngựa man, voi, tê 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngưu đen, tê ngưu trắng, đồ dùng bằng vàng, bạc… Sự kiện đầu tiên khi nhà Lý sang tặng quà cho nhà Tống là vào năm 1014: “.tướng của người Man là Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí đem 20 vạn người Man vào cướp, đóng đồn ở bến Kim Hoa, dàn bày quân dinh, gọi là trại Ngũ Hoa.

Châu mục châu Bình Lâm là Hoàng Ân Vĩnh đem việc ấy tâu lên. Vua sai Dực Thánh Vương đem quân đi đánh, chém được hơn 1 vạn đầu, bắt sống được quân lính và ngựa không kể xiết. Xuống chiếu cho Viên ngoại lang là Phùng Chân và Lý Thạc đem một trăm con ngựa Man bắt được sang biếu nhà Tống” [29, tr. Từ đó về sau, vào những dịp nhất định, vua Lý lại sai người đem voi sang hiến nhà Tống.

Lệ cống voi trở thành truyền thống và liên tục được thực hiện. Đến thời vua Lý Anh Tông, lệ này mới dần giảm bớt và được thay thế bằng việc đem vàng, bạc, tiền giấy và các loại hương liệu phụ thêm vào do việc cống voi gặp nhiều khó khăn trên con đường sang nhà Tống. Như vậy, giai đoạn trước thế kỉ XIII, giữa Đại Việt và Trung Quốc đã có mối qua lại với nhau. Tuy nhiên, hoạt động tiến cống trong thời gian này chưa được quy định rõ ràng.

Mục đích của những chuyến đi sứ là thăm hỏi, tạ ơn, mừng lên ngôi, báo tin thắng trận… Lễ vật được mang theo trong những chuyến đi này thường là voi, tê ngưu, ngựa, vàng, bạc, tiền giấy, hương liệu… Những hoạt động này là cơ sở góp phần duy trì mối quan hệ giữa hai nước và thúc đẩy hoạt động tiến cống giữa Đại Việt với Trung Quốc thời gian tiếp theo. Nhận xét về hoạt động tiến cống trong thời gian này, Phan Huy Chú viết: “Từ nhà Lý nhà Lê về trước, tuy ta vẫn thần phục Trung Quốc, nhưng kỳ cống hiến chưa định hạn năm; chỉ sau khi được sách phong, mới có lễ báo sính (thăm lại, hoặc khi giao hiếu, khi báo tin thắng trận, thì mới có sứ đi lại). Về số lễ vật, tuy không khảo xét tường tận, những thấy chép trong sử thì cũng có thể biết đại khái [4, tr. Giai đoạn từ thế kỉ XIII đến đầu thế kỉ XV * Dưới triều Trần: Trong mối quan hệ với Trung Quốc, Đại Việt thời Trần có sự khác biệt so với các triều đại trước đó: cùng lúc thực hiện mối quan hệ với Nam Tống và Mông Cổ (sau là nhà Nguyên).

Vào những năm cuối vương triều, triều Trần còn xác lập quan hệ bang giao với nhà Minh. Đối với mỗi vương triều phong kiến Trung Quốc, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triều Trần lại có những chính sách khác nhau trong việc duy trì mối quan hệ, trong đó, vấn đề triều cống, thăm hỏi cũng có những khác biệt. Với Nam Tống: quan hệ ngoại giao đã được các triều đại trước của Đại Việt thiết lập và duy trì. Nếu như các triều đại trước duy trì việc cầu phong, triều cống đều đặn với nhà Tống thì đến triều Trần, vấn đề triều cống lại không được thực hiện thường xuyên.

Phải ba năm sau khi thiết lập vương triều, tức năm 1229, vua Trần Thái Tông mới sai sứ sang thăm nước Tống, mục đích của chuyến đi này chỉ là thăm hỏi qua lại giữa hai quốc gia. Đến năm 1258, nhà Trần tiếp tục sai sứ sang thông hiếu với nhà Tống. Ghi chép về những chuyến đi sứ của sứ thần triều Trần sang Nam Tống rất hạn chế, chỉ nói chung chung là sang thăm hỏi hay thông hiếu chứ không nói rõ về vấn đề triều cống. Triều Trần hầu như không thực hiện triều cống đối với Nam Tống.

Sở dĩ có hiện tượng này là do xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, Nam Tống đang tập trung toàn bộ lực lượng để đối phó với Mông Cổ nhằm bảo vệ lãnh thổ. Triều Nam Tống không kiểm soát được vùng biên giới tiếp giáp với Đại Việt nên con đường thông sứ của Đại Việt với Nam Tống gặp nhiều khó khăn. Thậm chí có những thời điểm, sứ thần triều Trần phải mất nhiều thời gian để sang đến nhà Tống, con đường đi sứ trở nên xa xôi và hiểm trở hơn.

Thứ hai, Nam Tống đang đứng trước nguy cơ bị Mông Cổ xâm lược, do lo sợ triều Trần liên minh với Mông cổ nên triều đình Nam Tống chủ động giữ hòa khí, chủ động phong vương cho vua Trần mà không đả động gì đến vấn đề triều cống. Mục đích của việc làm này là nhằm duy trì mối quan hệ giữa hai nước, giảm thiểu nguy cơ triều Trần liên minh với Mông Cổ chống lại nhà Tống. Chính vì vậy, đối với triều Nam Tống, việc cử sứ giả sang thăm hỏi và dâng tặng một số vật phẩm của triều Trần là hành động tự nguyện, không tuân theo bất kỳ một quy định nào và không chịu áp lực từ phía triều Nam Tống. Hoạt động thăm hỏi giữa hai nước trong thời điểm này mang tính chất lễ sính hơn là triều cống.

Với Mông Cổ (sau là nhà Nguyên): cùng với việc duy trì mối quan hệ với Nam Tống, triều Trần cũng thiết lập mối quan hệ với nhà Nguyên. Mặc dù thất bại trong cuộc xâm lược Đại Việt năm 1258 nhưng triều đình Mông Cổ cũng nhanh 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ