phần mở đầu , kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương: Chƣơng I :Khái quát về vai trò của âm nhạc trong đời sống xã hộiViệt Nam từ xƣa cho đến nay 1.1 Âm nhạc trong đời sống xã hội Việt Nam trước đây.2 Âm nhạc trong đời sống xã hội giai đoạn Cách mạng Kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ và từ sau 1975 (thống nhất đất nước) 1.3 Sự xuất hiên các chương trình ca nhạc trên sóng phát thanh Đài Tiếng nói Việt Nam Chƣơng II: Thực trạng chƣơng trình âm nhạc trên Hệ Âm nhạc- Thông tin-Giải trí-VOV3- Đài Tiếng nói Việt Nam 2.1 Sự xuất hiện chương trình âm nhạc trên sóng FM (tiền thân của Hệ Âm nhạc-Thông tin- Giải trí-VOV3 ĐàiTiếng nóiViệt Nam) 2.2 Sự ra đời và hoạt động của Hệ Âm nhạc-Thông tin- Giải trí-VOV3 2.3 Tổ chức và cơ sở vật chất Chƣơng III: Một số đề xuất về định hƣớng và giải pháp 3.1 Mặt đóng góp của các chương trình ca nhạc trên VOV3-FM102,7 MHZ 3.2 Những mặt thiếu sót, khiếm khuyết 3.3 Một số đề xuất mang tính định hướng 3.4 Một số đề xuất về giải pháp. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I KHÁI QUÁT VỀ VAI TRÒ CỦA ÂM NHẠC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM TỪ XƢA ĐẾN NAY 1.1 Âm nhạc trong xã hội Việt Nam trước đây: Âm nhạc là tiếng nói tình cảm, là bộ phận không thể thiếu được của đời sống tinh thần và là công cụ đấu tranh để tồn tại và phát triển của dân tộc ta. Do các nhu cầu đó, trong suốt bốn nghìn năm lịch sử của mình, nhân dân ta đã sáng tạo nên hàng ngàn làn điệu và bài bản ca nhạc, hàng trăm loại nhạc cụ, nhiều hình thức thể loại tác phẩm, nhiều kiểu dàn nhạc cùng những thang âm điệu thức đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Từ ngàn xưa, âm nhạc theo sát người dân trong những sinh hoạt hàng ngày, trong lao động, đặc biệt là trong những nghi thức tế lễ, cầu cúng.
Đó là niềm vui, là nguồn động lực tiếp cho họ thêm sức mạnh trong lao động và trong chiến đấu với thiên nhiên, với kẻ thù, là phương tiện giao tiếp với thế giới thần linh trong trí tưởng tượng của họ…Nhìn những hình ảnh chạm khắc trên các trống đồng và đồ đồng Đông Sơn, ta có thể hình dung được phần nào sinh hoạt âm nhạc của tổ tiên thời đó - những sinh hoạt còn để lại dấu vết trong cuộc sống của nhiều dân tộc trên đất nước ta ngày nay. Người Việt Nam cũng đã sử dụng âm nhạc trong các nghi thức tế lễ cầu cúng của mình như một phương tiện, một ngôn ngữ để giao tiếp với thế giới thần linh, đồng thời là một thứ lễ vật để dâng cúng các thần linh. Tất cả những hình thức tín ngưỡng và tôn giáo đó đều tạo nên môi trường quan trọng cho sự phát sinh và phát triển của âm nhạc. Trong nhiều cuộc tế lễ, thờ cúng và sinh hoạt tôn giáo, âm nhạc là một thành tố không thể tách rời.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngay từ thủa bình minh dân tộc, người Việt đã là cư dân trồng lúa nước. Họ sống trong những cộng đồng mang tính chất công xã. Chính đây là cơ sở kinh tế-xã hội của fonclo Việt Nam, mà một trong những yếu tố cấu thành của nó là âm nhạc dân gian. Âm nhạc dân gian được sinh ra và tồn tại trong khuôn khổ các công xã nông thôn; nó gắn chặt với những hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người; nó phản ánh chứa đựng những quan niệm, những ước mơ, nguyện vọng của họ.
Một con người sinh ra, một dòng đời bắt đầu chảy. Song song với dòng chảy đó là một dòng âm nhạc dân gian. Mỗi chặng đường đời được đánh dấu bằng sinh hoạt , một thể loại âm nhạc dân gian. Đầu tiên, trẻ sơ sinh nhận của mẹ dòng giai điệu ngọt ngào của bài hát ru.
Bằng giai điệu và lời ca, bài hát ru đưa em bé vào giấc ngủ với một thế giới huyền thoại của thiên nhiên, cảnh vật đã được nhân cách hoá. Khi bé tròn ba tháng tuổi, lễ “nhập họ” được tổ chức. Biểu tượng của dòng họ là chiếc vòng bạc gia truyền. Một người đàn bà cao tuổi nhất sẽ bế bé, vừa hát bài hát ru, vừa đeo vào cổ tay bé chiếc vòng bạc.
Từ nay bé là con của một gia đình, là người thuộc một dòng họ, một dân tộc nhất định. Trước lễ này, bé là một sinh vật “ dự bị người”; sau lễ , bé là con người của xã hội, cái danh hiệu cao quý “con người” với tư cách là một tế bào xã hội, được giao và nhận qua bài hát ru. Như vậy, hát ru đã vượt ra ngoài chức năng ru ngủ , ngoài chức năng diễn tả tình mẹ con, nó được dùng như một tín hiệu văn hoá cổ truyền để nhận biết về một con người, là một thành viên của một dân tộc cụ thể. Tuổi 18, cái tuổi mà xã hội nông nghiệp Việt Nam lấy làm mốc cho con người trưởng thành là một bản lề quan trọng của đời người, sau lễ, “trưởng thành”, mà trong đó, con người thực hiện một số thử thách để chứng tỏ sự khôn lớn của nó, nó sẽ được 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công nhận là thành viên chính thức của công xã: con người bước vào đời ! Ngay sau lễ, một loạt trách nhiệm công dân, mà phần lớn phải thực hiện thông qua những sinh hoạt âm nhạc dân gian, trút lên đôi vai trẻ.
Nếu như lễ “ nhập họ” chưa gây được phản ứng nào trong tri thức trẻ sơ sinh, thì lễ “ trưởng thành” lại là nguồn kích thích thiêng liêng cho chủ thể về ý thức trách nhiệm, về lòng tự hào của một thành viên được công xã công nhận. Cộng vào đó là sinh lực tràn trề và óc sáng tạo của tuổi trẻ. Âm nhạc dân gian dành cho lứa tuổi này nhiều dạng sinh hoạt và thể loại hơn cả. Ai sẽ hát đối đáp những bài ca trữ tình trên cánh đồng trong lúc lao động nếu không phải là họ- những thanh niên nam nữ? Lao đông nông nghiệp xưa kia không đòi hỏi quá khắt khe nhịp điệu đồng đều của một tập thể người.
Vì thế, những bài ca trên cánh đồng mang tính chất trữ tình, có giai điệu kéo dài- đầy những luyến láy - và cũng vì chất trữ tình là phẩm chất mỹ học của lao động. Còn trong những công việc như kéo gỗ, chèo thuyền thì giai điệu trữ tình kia sẽ được lồng trong một khuôn khổ nhịp điệu nhằm thống nhất động tác của khối người đang lao động. Cũng chính những thanh niên nam nữ sẽ đảm nhận viêc trình diễn các sinh hoạt fônclo nghi lễ, mà quy định chặt chẽ về phân biệt giới tính sẽ chia cho họ những vai trò chủ chốt khác nhau : nam giới chơi các nhạc cụ, nữ giới hát và múa những bài ca nông lịch. Theo quan niệm dân gian, nhạc cụ là tiếng nói để giao tiếp với các lực lượng thiên nhiên, siêu nhiên, có liên quan đến bầu trời và mưa.
Đó là biểu tương dương tính mà nam giới là đại diện. Còn nữ giới- dại diện cho mặt đất sinh sôi nảy nở-là biểu hiện tính âm. Bầu trời - mặt đất, nam - nữ, dương - âm, đó là 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thế giới thống nhất của hai mặt đối lập trong ý niệm duy vật nguyên thuỷ. Ý niệm này còn thấy trong những sinh hoạt âm nhạc đám cưới, thể hiện bởi cuộc thi hát đố - giữa hai họ hôn nhân.
Khi đoàn nhà trai dẫn chú rể và các phù rể đón dâu thì vấp phài một sợi dây chăng ngang lối vào nhà cô dâu. Đằng sau cô dâu là đoàn đại biều nhà gái với những nghệ nhân giỏi hát đố- những bà “trùm”, họ sẽ hát những bài hát đố-gọi. Phía nhà trai phải hát giải-đáp cho đến khi nhà gái không còn gì để đưa ra nữa thì sợi dây sẽ được cất đi, nhường chỗ cho sự kết hợp hài hoà của bầu trời-mặt đất. trong lễ cưới,các cô gái cùng cô dâu ca hát than thở về nỗi buồn chia ly của cô dâu với ngôi nhà mẹ đẻ, với cuộc sống vô tư thời con gái.
Các chàng trai lại cất lên những khúc nhạc vui tươi, đầy vẻ đắc thắng của người được cuộc. Sinh hoạt khánh thành ngôi nhà mới của đôi vợ chồng trẻ thì lại diễn ra trong một lớp kịch hồi tưởng thời kỳ hôn nhân mẫu hệ xa xưa, khi người chồng còn cư trú bên thị tộc nhà vợ. Theo quan niệm này ngôi nhà mới dựng thuộc nhà ngoại, do người anh em của mẹ đóng vai trò chủ nhà. Còn chính chủ nhà thì phải đóng vai người ở trọ, ở nhờ.
Cuộc hát đối đáp giữa người “xin ở nhờ” và “ông chủ” diển ra sôi nổi trước sự chứng kiến của dân làng, cho đến khi sự thắng thế thuộc về “lữ khách”, “khách” đưa vợ con vào nhà, dùng cái cày vừa cày tượng trưng một đường từ đầu này đến đầu kia ngôi nhà, vừa hát bài hát “mở mùa gieo trồng”. Sau đó mọi người ăn tiệc và ca hát, nhảy múa và tấu nhạc tưng bừng. Như vậy, ta có thể thấy , âm nhạc dân gian đối với người xưa có một tầm quan trọng như thế nào. Khi con người chào đời, âm nhạc dân gian đón lấy nó vào cộng đồng xã hội người, ban 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho nó tiếng nói thiêng liêng của tình mẹ, dìu dắt nó từng bước trong tuổi thiếu niên.
Tuổi thanh niên thì chìm trong âm nhạc giao duyên, của tình yêu, của ngày cưới , của lao động và nghi lễ cộng đồng. Thế còn cái chết? Chính cái chết của con người được hưởng nhiều ân huệ nhất của âm nhạc dân gian. Cả làng sẽ tiễn đưa con người ấy bằng nghi vệ đối với một chiến binh đã ngã xuống trên chiến trường, dù rằng người ấy không một lần phải cầm vũ khí. Nghi vệ này là một điều đương nhiên ở một đất nước mà vận mệnh và sự tồn tại của một dân tộc không chỉ trả bằng lao động, mà luôn luôn phải trả bằng máu nữa.
Đi đầu tang lễ là lá cờ hiệu của công xã; tiếp theo là đàn trống, trống đồng đi trước và những trống bịt da cỡ trung đi sau. Rồi đến dàn nhạc gồm các nhạc cụ dây cung kéo và một cặp kèn dăm kép phát ra những âm thanh lảnh lót, xé ruột. Nối vào đó là một trống bịt da cỡ lớn đi ngang bằng với cái chiêng đại. Cả hai hoà nhau điểm lên những nhịp điệu trang nghiêm.