PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1. Tên đề tài: Điều kiện hình thành Doanh nghiệp Công nghệ - Vệ tinh trong các viện nghiên cứu và triển khai (Nghiên cứu trường hợp Viện Hoá học các Hợp chất thiên nhiên). Tính cấp thiết của đề tài Xuất phát từ thực tế các thành tựu KH&CN cần đưa vào ứng dụng nhưng theo các phương thức truyền thống như chuyển giao, mua bán công nghệ khó, thậm trí không thể thực hiện được do công nghệ, sản phẩm còn mới, xã hội và nhà đầu tư chưa có đủ điều kiện để đầu tư, ngoài ra công nghệ còn luôn cần hoàn thiện như một quá trình.
Công nghệ thuộc lĩnh vực kinh tế tri thức hàm chứa chất xám của người sáng tạo ra nó. Đây là một trong những điều kiện để hình thành mô hình doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh (spin-off) hay còn gọi là doanh nghiệp KH&CN. Doanh nghiệp dạng này hoạt động gắn với đơn vị chủ quản là các viện R&D. Doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh là hình thức để nhà khoa học tự chủ, tự chịu trách nhiệm đến cùng với kết quả của mình trong nghiên cứu khoa học cũng như phát triển công nghệ trong khuôn khổ doanh nghiệp.
Cơ sở pháp lý của loại hình doanh nghiệp này là các văn bản pháp quy như Nghị định 115/2005/NĐ-CP (NĐ 115) quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức KH&CN công lập, Nghị định 80/2007/NĐ-CP (NĐ 80) về doanh nghiệp KH&CN, Nghị định 96/2010/NĐ-CP sửa đổi một số điều của NĐ 115 và NĐ 80, Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13. Việc hình thành, hoạt động các doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh trong các viện R&D suy cho cùng là phục vụ hoạt động R&D của các viện R&D. Với các ưu đãi về thuế, vay vốn, thuê đất tạo ra lợi thế cạnh tranh cho công nghệ mới, doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh có thể mang lại thu nhập đáng kể từ các kết quả nghiên cứu, từ đó cải thiện đời sống vật chất cho đội ngũ trí thức của đơn vị. Trong đó quan trọng nhất là thông qua hoạt động của doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh trực thuộc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com viện R&D, viện có cơ hội kết hợp thu hút lao động chất lượng cao phục vụ cho doanh nghiệp, cho viện mà không cần bổ sung đội ngũ cán bộ cơ hữu, từ đó uy tín của doanh nghiệp ngày một nâng cao đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp và viện tăng thêm cơ hội tìm kiếm nhiều đề tài, dự án gắn với nhu cầu thị trường, tiến tới đưa nhiều sản phẩm vào phục vụ cuộc sống và cơ hội thu hút vốn đầu tư từ các cá nhân, tổ chức khác.
Quy hoạch tổng thể phát triển Viện Khoa học và Công nghệ Việt nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đến năm 2020 và định hướng đến 2030, theo quyết định số 2133/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ban hành ngày 01/12/2011, đã chỉ rõ mục tiêu đến năm 2020 phát triển 15 doanh nghiệp spin-off (doanh nghiệp KH&CN) và đến năm 2030 là 20 doanh nghiệp spin-off. Nghiên cứu khoa học gắn liền với đào tạo và sản xuất tạo nên thế „chân vạc„ trong nghiên cứu khoa học. Hoạt động nghiên cứu khoa học gắn liền với đào tạo sẽ làm cho hoạt động nghiên cứu khoa học ngày càng phát triển, những kiến thức mới nhất được cập nhật vào ngay trong quá trình đào tạo, thông qua hoạt động đào tạo để cung cấp nguồn nhân lực phục vụ trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Gắn liền với sản xuất giúp các kết quả nghiên cứu đi vào cuộc sống, định hướng nghiên cứu theo nhu cầu của thị trường và quan trọng nhất mang lại lợi ích kinh tế từ hoạt động sản xuất cho các nhà khoa học.
Hoạt động đào tạo gắn liền với nghiên cứu khoa học và sản xuất sẽ đào tạo được đội ngũ cán bộ có chất lượng cao hơn, mang lại nguồn nhân lực cho nghiên cứu khoa học và sản xuất. Cũng như vậy, hoạt động sản xuất gắn liền với nghiên cứu khoa học sẽ ứng dụng tốt hơn những kết quả nghiên cứu và cuộc sống. Thông qua sản xuất các nhà khoa học được hỗ trợ, đảm bảo về kinh tế. Ngoài ra hoạt động sản xuất còn là nơi thực nghiệm của hoạt động đào tạo, người học được tham gia vào quá trình sản xuất ngay cả khi trong đang trong quá trình học tập.
Doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh là loại hình doanh nghiệp có thể kết nối được quá trình nghiên cứu với sản xuất hàng hoá và hoạt động đào tạo. Doanh nghiệp công nghệ vệ tinh là giải pháp tối ưu để các nghiên cứu theo được nhu 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cầu thị trường và với cấu trúc hợp lý sẽ có đủ khả năng để tiếp tục thực hiện nâng cấp, đổi mới công nghệ cũng như cung cấp dịch vụ liên quan. Ngoài ra doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh còn tạo điều kiện nâng cao hiệu suất sử dụng trang thiết bị của Viện R&D và các đơn vị nghiên cứu khoa học liên quan, thu hút lao động chất lượng cao phục vụ hoạt động R&D của Doanh nghiệp, tăng nguồn thu và dự trữ công nghệ - cơ sở quan trọng để nâng cao năng lực của doanh nghiệp cũng như viện R&D để tiếp tục thực hiện các dự án, đề tài liên quan khác. Là một Viện R&D có dự trữ công nghệ lớn, tiềm lực vật chất mạnh, đội ngũ lãnh đạo trẻ và năng động, việc hình thành Doanh nghiệp Công nghệ - Vệ tinh với trường hợp Viện HCTN tạo điều kiện cho gắn kết và phát huy các sức mạnh của Viện, đưa Viện HCTN lên một tầm cao mới.
Việc nghiên cứu điều kiện hình thành Doanh nghiệp Công nghệ - Vệ tinh trong các viện R&D với trường hợp Viện HCTN, sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các Doanh nghiệp Công nghệ - Vệ tinh sớm được các viện R&D tham khảo, áp dụng và sớm nhân rộng để thực hiện được mục tiêu đã đề ra trong quy hoạch tổng thể phát triển của Bộ KH&CN nói chung và VHL nói riêng đến năm 2020 và định hướng đến 2030. Ý nghĩa lý thuyết của nghiên cứu - Đóng góp nghiên cứu mô hình tổ chức gắn nghiên cứu khoa học với sản xuất. - Đóng góp nghiên cứu thay đổi cấu trúc các tổ chức R&D dẫn tới thích ứng với kinh tế thị trường. Ý nghĩa thực tế của nghiên cứu Doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh làm cầu nối cho các Viện R&D hoạt động tốt hơn, gắn nghiên cứu khoa học với thực tiễn, sản phầm khoa học thương mại hoá, tiến tới tự trị.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Mô hình Doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp vệ tinh (spin-off) đã được bàn đến trong nhiều tài liệu trong nước và nước ngoài. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong số các nghiên cứu ở nước ngoài phải kể đến nghiên cứu do Nhóm tác giả Sally Davenport, Adrian Carr và Dave Bibbi (2002) [35] đã chỉ ra việc hình thành các doanh nghiệp spin-off từ các tổ chức nghiên cứu là một trong những phương thức thương mại hoá tri thức và công nghệ hiệu quả nhất. Trong khi đó nhóm các nhà khoa học Mỹ là Steffensen; Roger và Speakman (1996- 1999) [37] đã là rõ hơn vai trò các nhóm tác nhân chính tham gia vào quá trình hình thành doanh nghiệp spin-off. Các nhà nghiên cứu chính sách như Ndonzuan, Pirnary và Surlemont (2002) đã phân tích quá trình hình thành doanh nghiệp spin-off dưới góc độ chuyển giao kết quả nghiên cứu từ tổ chức nghiên cứu và triển khai vào thị trường và coi đây là hình thức chuyển giao mang lại hiệu quả nhất đồng thời cũng nêu ra các vấn đề như vốn đầu tư mạo hiểm, vai trò các khu công nghệ cao trong giai đoạn ban đầu và các giai đoạn hình thành doanh nghiệp spin-off.
Về tác động của doanh nghiệp spin-off đối với nền kinh tế địa phương, OECD trong đề tài nghiên cứu năm 2003 đã chỉ ra: Các doanh nghiệp spin-off không chỉ thuần tuý được thể hiện ở kết quả kinh tế thông qua tài sản từ kết quả nghiên cứu mà còn thể hiện thông qua việc liên kết khu vực R&D với khu vực sản xuất. OECD cũng đã đưa ra các khuyến nghị về chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp spin-off và coi đây là phương thức khuyến khích phát triển vùng và mạng lưới tổ chức R&D và doanh nghiệp với các địa phương. Trong nghiên cứu áp dụng mô hình doanh nghiệp spin-off ở Ý, Barbara Bigliardi, Francesco Galati, and Chiara Verbano (2013) [34] đã xác định 18 yếu tố liên quan đến sự thành công của doanh nghiệp spin-off bắng phương pháp Delphi, theo đó một số yếu tố quyết định như: nắm giữ kết quả nghiên cứu có thể thương mại hóa, sự tham gia của tổ chức mẹ (Trường đại học / Viện nghiên cứu) và động lực của người sáng lập. Ở Việt Nam, tác giả Bạch Tân Sinh (2005) [28] và cộng sự trong Nghiên cứu về sự hình thành và phát triển doanh nghiệp KH&CN và sự chuyển đổi một số tổ chức R&D ở Việt Nam theo cơ chế doanh nghiệp đã phân tích rõ bản chất loại hình doanh nghiệp KH&CN, xác định các điều kiện hình thành doanh 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp KH&CN đồng thời nghiên cứu mô hình chuyển đổi tổ chức nghiên cứu và phát triển sang cơ chế doanh nghiệp.
Tác giả Nguyễn Quân (2006) [27] đã coi doanh nghiệp KH&CN như một lực lượng sản xuất mới. Tác giả đã nêu ra khái niệm doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp spin-off và lý giải vì sao phải lập và phát triển doanh nghiệp KH&CN đồng thời nêu ra các vấn đề cần quan tâm khi chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập thành doanh nghiệp KH&CN. Nhóm tác giả Mai Hà, Hoàng Văn Tuyên, Đào Thanh Trường (2015) [13;25] đã đưa ra một số khái niệm và kinh nghiệm của thế giới về mô hình doanh nghiệp KH&CN và các hình thức đầu tư tài chính cho loại hình doanh nghiệp này. Trong khi đó tác giả Nguyễn Thị Minh Nga (2006) [18] đã có nghiên cứu về các đặc trưng của doanh nghiệp KH&CN, vai trò và động cơ của doanh nghiệp KH&CN.
Ngoài ra nghiên cứu đã đề ra các thủ tục thành lập doanh nghiệp KH&CN, hình thức hoạt động, cơ cấu tổ chức, liên kết nghiên cứu, các thuận lợi khó khăn của doanh nghiệp KH&CN đồng thời đã nêu được sự cần thiết và phạm vi chính sách hỗ trợ, các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp KH&CN.