Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Tổ Chức và Hoạt Động của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam từ 1986 đến 1996

Luận văn thạc sĩ phân tích vai trò của Đảng trong xây dựng tổ chức và hoạt động Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam giai đoạn 1986-1996.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2012

125
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1991

1.1. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng

1.1.1. Hoàn cảnh lịch sử

1.1.2. Chủ trương của Đảng

1.2. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam hiện thực hóa chủ trương của Đảng

1.2.1. Xây dựng tổ chức Hội

1.2.2. Hoạt động của Hội

2. CHƯƠNG 2: TĂNG CƯỜNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 1996

2.1. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương mới của Đảng

2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử

2.1.2. Chủ trương mới của Đảng

2.2. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực hiện chủ trương mới của Đảng

2.2.1. Xây dựng tổ chức Hội

2.2.2. Hoạt động của Hội

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Một số kinh nghiệm

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Tổ Chức Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam 1986 1996

Đảng Cộng sản Việt Nam đã đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam (LHPN) từ năm 1986 đến năm 1996. Thời kỳ này đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của đất nước trong bối cảnh đổi mới, với nhiều thách thức và cơ hội cho phụ nữ Việt Nam. Đảng đã xác định rõ vai trò của phụ nữ trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, từ đó tạo điều kiện cho Hội LHPN phát triển mạnh mẽ.

1.1. Hoàn cảnh lịch sử và chính sách của Đảng trong giai đoạn 1986 1996

Giai đoạn 1986-1996 là thời kỳ quan trọng trong lịch sử Việt Nam, khi đất nước chuyển mình từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường. Đảng đã đưa ra nhiều chính sách nhằm khuyến khích sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và chính trị. Những chính sách này không chỉ giúp nâng cao vị thế của phụ nữ mà còn góp phần vào sự phát triển chung của đất nước.

1.2. Vai trò của Đảng trong việc xây dựng tổ chức Hội LHPN

Đảng đã lãnh đạo việc xây dựng tổ chức Hội LHPN thông qua việc ban hành các nghị quyết, chỉ thị cụ thể. Sự lãnh đạo này không chỉ thể hiện qua các văn bản mà còn qua việc tổ chức các hoạt động thực tiễn, tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào các phong trào xã hội, từ đó nâng cao vai trò của họ trong gia đình và xã hội.

II. Những thách thức trong hoạt động của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam 1986 1991

Trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, Hội LHPN phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Những khó khăn này không chỉ đến từ bối cảnh kinh tế mà còn từ những định kiến xã hội về vai trò của phụ nữ. Đảng đã nhận thức được những thách thức này và đưa ra các giải pháp nhằm hỗ trợ Hội trong việc vượt qua khó khăn.

2.1. Khó khăn về kinh tế và xã hội

Kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này còn nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến đời sống của phụ nữ. Đảng đã chỉ đạo Hội LHPN tìm kiếm các nguồn lực hỗ trợ, từ đó giúp phụ nữ cải thiện đời sống và tham gia tích cực hơn vào các hoạt động xã hội.

2.2. Định kiến xã hội về vai trò của phụ nữ

Định kiến về vai trò của phụ nữ trong xã hội vẫn còn tồn tại, gây cản trở cho sự phát triển của Hội. Đảng đã khuyến khích Hội LHPN thực hiện các chương trình tuyên truyền, giáo dục nhằm thay đổi nhận thức của xã hội về vai trò của phụ nữ.

III. Phương pháp và giải pháp của Đảng trong việc hỗ trợ Hội LHPN 1991 1996

Để đối phó với những thách thức, Đảng đã áp dụng nhiều phương pháp và giải pháp nhằm hỗ trợ Hội LHPN trong việc xây dựng tổ chức và hoạt động. Những giải pháp này không chỉ giúp Hội phát triển mà còn nâng cao vai trò của phụ nữ trong xã hội.

3.1. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

Đảng đã đổi mới phương thức lãnh đạo, tạo điều kiện cho Hội LHPN hoạt động độc lập hơn. Điều này giúp Hội có thể linh hoạt trong việc triển khai các chương trình, hoạt động phù hợp với nhu cầu của phụ nữ.

3.2. Tăng cường hợp tác quốc tế

Đảng đã khuyến khích Hội LHPN mở rộng hợp tác quốc tế, từ đó học hỏi kinh nghiệm và nhận được sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế. Sự hợp tác này đã giúp Hội nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động.

IV. Kết quả và ứng dụng thực tiễn từ hoạt động của Hội LHPN 1986 1996

Những nỗ lực của Hội LHPN trong giai đoạn này đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Hội không chỉ thu hút được đông đảo phụ nữ tham gia mà còn góp phần nâng cao nhận thức và vị thế của phụ nữ trong xã hội.

4.1. Tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực

Hội LHPN đã tổ chức nhiều hoạt động nhằm khuyến khích phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội. Sự tham gia này không chỉ giúp phụ nữ khẳng định vị thế mà còn góp phần vào sự phát triển chung của đất nước.

4.2. Nâng cao nhận thức về bình đẳng giới

Các chương trình tuyên truyền của Hội đã giúp nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong xã hội. Điều này đã tạo ra những thay đổi tích cực trong cách nhìn nhận và đối xử với phụ nữ.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của Hội LHPN Việt Nam

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội LHPN đã có những bước tiến quan trọng trong việc xây dựng tổ chức và hoạt động. Tương lai, Hội cần tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được, đồng thời đối mặt với những thách thức mới trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

5.1. Định hướng phát triển trong thời kỳ mới

Hội LHPN cần xác định rõ định hướng phát triển trong bối cảnh mới, từ đó xây dựng các chương trình, hoạt động phù hợp với nhu cầu của phụ nữ và yêu cầu của xã hội.

5.2. Tăng cường vai trò của phụ nữ trong xã hội

Hội cần tiếp tục nâng cao vai trò của phụ nữ trong các lĩnh vực, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước. Sự tham gia của phụ nữ không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm của họ trong công cuộc xây dựng xã hội.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng lãnh đạo xây dựng tổ chức và hoạt động của hội liên hiệp phụ nữ việt nam từ năm 1986 đến năm 1996

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CỦA HỘI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1991 1. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng 1. Hoàn cảnh lịch sử Với thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mùa Xuân năm 1975, cách mạng Việt Nam chuyển sang thời kỳ mới với các đặc điểm: từ chiến tranh chuyển sang hoà bình; từ đất nước bị chia cắt chuyển sang độc lập, thống nhất; từ hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam chuyển sang nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã đánh thắng đế quốc Mỹ - một đế quốc có thế lực kinh tế, quân sự lớn mạnh nhất thế giới.

Một kỷ nguyên phát triển rực rỡ của cách mạng Việt Nam được mở ra: Kỷ nguyên cả nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội. Sau chiến thắng, thế và lực của cách mạng Việt Nam lớn mạnh vượt bậc. Khối đại đoàn kết dân tộc do Đảng lãnh đạo được tăng cường trên cơ sở nhất trí về mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Khí thế cách mạng của quần chúng nhân dân lên cao; chính quyền nhân dân được xây dựng và củng cố vững mạnh.

Đất nước thống nhất, những nguồn lực vật chất để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có điều kiện phát huy tối đa. Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú, nguồn lao động dồi dào; người Việt Nam cần cù, thông minh. Đảng và nhân dân Việt Nam đúc kết được những kinh nghiệm quý báu từ quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Việt Nam được bầu bạn năm châu đồng tình ủng hộ, nhận được sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần.

Bên cạnh những thuận lợi đó, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam cũng đứng trước những khó khăn to lớn. Cơ sở xuất phát của đất nước là một nền kinh tế nghèo nàn, lực lượng sản xuất rất thấp, trong xã hội còn nhiều yếu tố phức tạp do quá khứ và do chủ nghĩa thực dân mới để lại. Cơ sở vật chất - kỹ thuật 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Tuyệt đại bộ phận lao động là thủ công, năng suất thấp.

Đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Điều kiện quốc tế của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam cũng có những trở ngại không nhỏ. Nguồn viện trợ từ Liên Xô và các nước bị cắt giảm. Trong các nước xã hội chủ nghĩa xuất hiện những mâu thuẫn gây ảnh hưởng cho sự phát triển quan hệ của Việt Nam.

Mỹ và nhiều nước tư bản phương Tây tiến hành bao vây cấm vận đối với kinh tế Việt Nam, cơ hội tiếp cận nguồn vốn, khoa học kỹ thuật từ các nước tư bản phát triển bị hạn chế. Khu vực biên giới phía Bắc và biên giới phía Tây - Nam mất ổn định, các thế lực thù địch chống phá, gây rối. Quan hệ của Việt Nam với các nước trong khu vực trở nên bất bình thường. Vượt lên tất cả những khó khăn đó, nhân dân Việt Nam ra sức phấn đấu xây dựng đất nước đạt được nhiều thành tựu.

Nhiều vấn đề cấp bách về kinh tế - xã hội đã được giải quyết kịp thời, những hậu quả nặng nề của chiến tranh từng bước được khắc phục. Đời sống nhân dân dần dần có sự ổn định. Tuy nhiên, đến đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, tình hình trong nước và quốc tế tiếp tục có nhiều biến đổi phức tạp. Vì nhiều lý do chủ quan, khách quan khác nhau, đất nước vẫn còn đứng trước nhiều vấn đề gay gắt.

Chưa thu hẹp được những mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế quốc dân. Sản xuất phát triển chậm trong khi dân số tăng nhanh. Thu nhập quốc dân chưa đảm bảo được tiêu dùng xã hội. Số lao động thất nghiệp đông.

Đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn, nhiều tệ nạn xã hội mới phát sinh, một bộ phận dân chúng sa sút niềm tin, có lối sống thực dụng, các thế lực phản động luôn tìm cơ hội chống phá cách mạng Việt Nam. Thực trạng kinh tế - xã hội phức tạp đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải có những quyết sách xoay chuyển tình hình, tạo ra một bước ngoặt cho sự phát triển. Trước tình hình đó, Đảng và nhân dân Việt Nam không còn sự lựa chọn nào khác là phải đổi mới toàn diện đất nước, nhằm tạo nên sự bứt phá về kinh tế - xã hội, xây dựng chủ nghĩa xã hội có hiệu quả hơn. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với hoàn cảnh của đất nước vào thập niên 1980, đời sống của các tầng lớp phụ nữ cũng rơi vào tình trạng vô cùng khó khăn: một bộ phận đáng kể phụ nữ không có hoặc không đủ việc làm, thu nhập thấp, nhiều chị em phải làm việc trong điều kiện vất vả, độc hại, sức khỏe giảm sút; phụ nữ bị phân biệt đối xử, là nạn nhân của các tệ nạn xã hội; một bộ phận phụ nữ giảm sút niềm tin, sa vào lối sống thực dụng… Trong các tầng lớp phụ nữ nổi lên tâm tư lo lắng, bất bình, yêu cầu Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành quan tâm giải quyết các vấn đề cấp bách, đặc biệt liên quan đến phụ nữ, trẻ em là: Việc làm và đời sống, dân chủ và công bằng xã hội, an ninh và tệ nạn xã hội… Phong trào phụ nữ và các hoạt động của Hội phụ nữ vì thế cũng gặp không ít khó khăn, thách thức.

Nhiệm vụ của Hội LHPN Việt Nam rất nặng nề trong khi điều kiện hoạt động của Hội còn nhiều hạn chế. Cán bộ, hội viên, Đảng bộ và chính quyền các cấp… chưa nhận thức đúng chức năng của Hội. Tổ chức bộ máy và biên chế của Hội chưa hợp lý, hoạt động kém hiệu quả. Tổ chức cơ sở Hội chưa phù hợp với nhiệm vụ và yêu cầu của đông đảo phụ nữ.

Trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ Hội chưa đáp ứng yêu cầu… Phong trào “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” được triển khai từ năm 1978 về nhiều mặt không còn phù hợp; các hoạt động của Hội chủ yếu tập trung huy động, vận động lực lượng phụ nữ thực hiện các nghĩa vụ với xã hội, với đất nước., mới chỉ chú trọng động viên phụ nữ vượt khó khăn thực hiện nghĩa vụ người công dân, người vợ, người mẹ… mà chưa quan tâm chăm lo lợi ích thiết thực cho phụ nữ, phát huy quyền làm chủ và nâng cao trình độ của phụ nữ; trong tư tưởng chỉ đạo, có nơi, có lúc còn thõa mãn về thành tựu giải phóng phụ nữ trong lĩnh vực chính trị, chưa nhận thức đầy đủ yêu cầu, nội dung giải phóng phụ nữ về kinh tế - xã hội; một số cấp ủy Đảng vẫn coi công tác phụ nữ là việc riêng của Hội LHPN Việt Nam. Trước những biến đổi mạnh mẽ của tình hình trong nước và quốc tế, để phát huy vai trò, sự đóng góp của các tầng lớp phụ nữ mà Hội LHPN các cấp làm nòng cốt, phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vào sự nghiệp đổi mới của 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đất nước, đồng thời thực hiện tốt hơn chức năng đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ, Đảng cần có những chủ trương đúng đắn nhằm đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam, nhằm phát huy có hiệu quả vai trò của tổ chức Hội trong vận động, tập hợp các tầng lớp phụ nữ tích cực tham gia công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Chủ trương của Đảng Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam được gọi là Đại hội đổi mới, với mục tiêu khai thác mọi tiềm năng của đất nước, giải phóng năng lực sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, phát huy yếu tố con người. Con người được coi là mục tiêu và động lực phát triển xã hội.

Đại hội VI của Đảng đánh dấu một bước ngoặt rất cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, với việc đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước - từ đổi mới tư duy đến đổi mới tổ chức, cán bộ, phương thức lãnh đạo và phong cách của Đảng, từ đổi mới kinh tế đến đổi mới hệ thống chính trị và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước, quan điểm về đổi mới công tác quần chúng, công tác mặt trận và các đoàn thể nhân dân được thể hiện rất rõ trong Văn kiện Đại hội Đảng, Chỉ thị, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đem lại luồng sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước tiến lên. Đại hội khẳng định: “Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng tiếp tục thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [9, tr.

“Thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc phải được bảo đảm bằng sức mạnh tổng hợp của chế độ mới. Trong khi không ngừng chăm lo nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Đảng và nhân dân ta tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xã hội, xây dựng chế độ làm chủ tập thể, nền kinh tế mới, nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa” [9, tr. Đại hội lần thứ VI xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo. Xuất phát từ nhiệm vụ bao trùm và mục tiêu tổng quát, Đại hội đánh giá cao vai trò phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp chung của đất nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ