Luận văn Thạc sĩ: Ứng dụng mô hình Reggio Emilia vào giáo dục kỹ năng tiền đọc viết có ý nghĩa cho trẻ 4-5 tuổi

Ứng dụng Reggio Emilia trong giáo dục tiền đọc viết cho trẻ em 4-5 tuổi. Phát triển kỹ năng tư duy sáng tạo và chuẩn bị nền tảng học tập vững chắc.

Tác giả

Lê Thị Châu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

198
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan mô hình Reggio Emilia và kỹ năng tiền đọc viết cho trẻ 4 5 tuổi

Mô hình Reggio Emilia xuất phát từ thành phố Reggio Emilia, Ý. Mô hình này được xây dựng dựa trên quan điểm trẻ em có tiềm năng phát triển lớn. Trẻ học thông qua trải nghiệm trực tiếp. Giáo viên đóng vai trò người hướng dẫn, hỗ trợ. Môi trường học tập là yếu tố then chốt. Giáo dục kỹ năng tiền đọc viết cho trẻ 4-5 tuổi cần tiếp cận phù hợp. Giai đoạn này trẻ bắt đầu nhận biết âm thanh, chữ cái và hình dạng. Phương pháp truyền thống chưa phát huy hiệu quả tối đa. Trẻ cần được tiếp cận theo hướng có ý nghĩa. Nghĩa là hoạt động học gắn liền với cuộc sống thực tế. Reggio Emilia nhấn mạnh tính sáng tạo và khả năng tự khám phá. Mô hình này tạo điều kiện cho trẻ phát triển toàn diện kỹ năng ngôn ngữ. Phụ huynh và cộng đồng tham gia tích cực vào quá trình giáo dục.

1.1. Lịch sử phát triển mô hình Reggio Emilia

Mô hình Reggio Emilia ra đời sau Thế chiến thứ hai tại Ý. Nhà tâm lý học Loris Malaguzzi là người sáng lập chính. Ông tin rằng trẻ em có trăm ngôn ngữ để thể hiện bản thân. Phụ huynh và cộng đồng cùng xây dựng trường học đầu tiên từ đống đổ nát. Mô hình này phát triển mạnh mẽ từ thập niên 1960. Năm 1991, tạp chí Newsweek công nhận đây là mô hình giáo dục tốt nhất thế giới. Reggio Emilia không phải chương trình giảng dạy cứng nhắc. Đây là triết lý giáo dục dựa trên sự tôn trọng trẻ em.

1.2. Khái niệm kỹ năng tiền đọc viết có ý nghĩa

Kỹ năng tiền đọc viết là nền tảng trước khi trẻ biết đọc biết viết. Bao gồm khả năng nhận biết âm thanh, vần điệu và chữ cái. Trẻ phân biệt hình dạng và hướng viết từ trái sang phải. Giáo dục có ý nghĩa nghĩa là hoạt động gắn liền với đời sống thực. Trẻ không học thuộc lòng máy móc. Thay vào đó, trẻ trải nghiệm và khám phá kiến thức tự nhiên. Phương pháp này giúp trẻ tiếp thu sâu và nhớ lâu hơn. Kỹ năng hình thành thông qua trò chơi, kể chuyện và sáng tạo nghệ thuật.

II. Phân tích thực trạng giáo dục tiền đọc viết cho trẻ mẫu giáo 4 5 tuổi

Thực tế giáo dục tiền đọc viết tại Việt Nam còn nhiều hạn chế. Nhiều trường mầm non áp dụng phương pháp truyền thống. Giáo viên phân tích kiến thức, trẻ ghi nhớ và nhắc lại. Cách tiếp cận này không phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi. Trẻ 4-5 tuổi học tốt nhất qua trải nghiệm trực quan. Môi trường chữ viết trong lớp chưa phát huy tác dụng. Chữ viết xuất hiện khắp nơi nhưng thiếu ý nghĩa thiết thực. Giáo viên chưa quan tâm đến cách trẻ tương tác với chữ viết. Sử dụng mô hình trực quan để hiểu cấu trúc âm thanh chưa phổ biến. Nhiều giáo viên không biết cách áp dụng phương pháp này. Chương trình học nặng về kiến thức trừu tượng. Trẻ thiếu cơ hội sáng tạo và tự khám phá. Điều này ảnh hưởng đến hứng thú học tập của trẻ. Cần thay đổi cách tiếp cận để giáo dục hiệu quả hơn.

2.1. Hạn chế trong phương pháp giảng dạy hiện tại

Phương pháp giảng dạy truyền thống tập trung vào ghi nhớ. Giáo viên đứng lớp chủ đạo, trẻ tiếp nhận thụ động. Hoạt động học thiếu tính trải nghiệm thực tế. Trẻ không có cơ hội tự giải quyết vấn đề. Chương trình chưa gắn liền với cuộc sống hàng ngày. Giáo viên thiếu kiến thức về mô hình Reggio Emilia. Tài liệu hướng dẫn về phương pháp này còn hạn chế. Đào tạo giáo viên chưa được chú trọng đúng mức. Kết quả là trẻ học vẹt, không hiểu bản chất kiến thức.

2.2. Vai trò của môi trường học tập trong phát triển kỹ năng

Môi trường học tập ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kỹ năng tiền đọc viết. Trẻ 4-5 tuổi học qua tương tác với môi trường xung quanh. Không gian lớp học cần tạo điều kiện khám phá và sáng tạo. Góc chữ viết, góc kể chuyện và góc nghệ thuật rất quan trọng. Vật liệu học tập cần đa dạng và gần gũi đời sống. Trẻ cần được chạm, cầm và thao tác trực tiếp với chữ cái. Ánh sáng, màu sắc và cách bố trí ảnh hưởng đến hứng thú học tập. Môi trường an toàn khuyến khích trẻ thử nghiệm và mắc lỗi.

III. Giải pháp ứng dụng mô hình Reggio Emilia vào giáo dục tiền đọc viết

Ứng dụng mô hình Reggio Emilia cần tuân theo nguyên tắc cụ thể. Thứ nhất, giáo viên thay đổi vai trò từ người truyền đạt sang người hướng dẫn. Giáo viên hỗ trợ trẻ thu thập thông tin và cùng tìm hiểu chủ đề. Không dạy theo cách cầm tay chỉ việc. Trẻ được phát huy khả năng tự giải quyết vấn đề. Thứ hai, xây dựng môi trường học tập phong phú và ý nghĩa. Cơ sở vật chất cần đảm bảo an toàn cho trẻ trải nghiệm. Thứ ba, thiết kế hoạt động học dựa trên dự án. Trẻ khám phá chủ đề liên quan đến cuộc sống thực. Giáo viên quan sát và ghi nhận quá trình phát triển của trẻ. Sử dụng phương pháp ghi chép Reggio để đánh giá tiến bộ. Phụ huynh tham gia tích cực vào hoạt động giáo dục. Cộng đồng hỗ trợ tạo nguồn tài nguyên học tập đa dạng. Đào tạo giáo viên là điều kiện tiên quyết để triển khai hiệu quả.

3.1. Nguyên tắc xây dựng chương trình học theo Reggio Emilia

Chương trình học theo Reggio Emilia dựa trên dự án kéo dài. Chủ đề xuất phát từ hứng thú của trẻ và vấn đề thực tế. Giáo viên không áp đặt nội dung học từ trước. Chương trình linh hoạt, thay đổi theo phản ứng của trẻ. Mỗi hoạt động đều có ý nghĩa và kết nối với đời sống. Trẻ được quyền lựa chọn cách thể hiện hiểu biết. Sử dụng nhiều phương tiện: vẽ, nặn, kể chuyện, đóng vai. Giáo viên đóng vai trò đồng nghiên cứu cùng trẻ.

3.2. Điều kiện triển khai mô hình trong trường mầm non

Triển khai mô hình Reggio Emilia cần nhiều điều kiện. Giáo viên phải được đào tạo chuyên sâu về triết lý giáo dục này. Nhà trường trang bị cơ sở vật chất phù hợp. Tài liệu hướng dẫn và tham khảo cần đầy đủ. Không gian lớp học thiết kế mở, khuyến khích khám phá. Vật liệu học tập đa dạng, an toàn cho trẻ. Sự hợp tác giữa giáo viên, phụ huynh và cộng đồng rất cần thiết. Ban giám hiệu ủng hộ và tạo điều kiện cho giáo viên sáng tạo.

IV. Kết luận và hướng ứng dụng thực tiễn của luận văn thạc sĩ

Luận văn thạc sĩ ứng dụng mô hình Reggio Emilia đã đạt kết quả khả quan. Nghiên cứu chứng minh hiệu quả của mô hình trong giáo dục tiền đọc viết. Trẻ 4-5 tuổi phát triển kỹ năng nhận biết âm thanh và chữ cái tốt hơn. Trẻ hứng thú hơn với hoạt động học tập. Khả năng sáng tạo và tự giải quyết vấn đề cải thiện rõ rệt. Mô hình phù hợp với đặc điểm phát triển tâm lý lứa tuổi. Giáo viên thay đổi nhận thức về vai trò của mình trong lớp học. Phương pháp này tạo nền tảng vững chắc cho việc học đọc viết sau này. Ứng dụng rộng rãi mô hình cần có lộ trình cụ thể. Đào tạo giáo viên là ưu tiên hàng đầu. Nhà trường và phụ huynh cùng tham gia vào quá trình giáo dục. Kết quả nghiên cứu mở hướng phát triển giáo dục mầm non Việt Nam.

4.1. Kết quả đạt được từ ứng dụng mô hình Reggio Emilia

Nghiên cứu cho thấy trẻ tiến bộ rõ rệt về kỹ năng tiền đọc viết. Trẻ nhận biết được nhiều chữ cái và âm thanh hơn. Khả năng phân biệt hình dạng và hướng viết cải thiện. Trẻ chủ động tham gia hoạt động học tập. Sự sáng tạo và tư duy phản biện phát triển mạnh. Trẻ biết cách thể hiện ý tưởng qua nhiều phương tiện. Mối quan hệ giữa giáo viên và trẻ gắn bó hơn. Phụ huynh hài lòng với phương pháp giáo dục mới.

4.2. Hướng phát triển và ứng dụng trong giáo dục mầm non

Mô hình Reggio Emilia có tiềm năng ứng dụng rộng rãi. Cần xây dựng chương trình đào tạo giáo viên bài bản. Tài liệu hướng dẫn tiếng Việt cần được biên soạn. Nghiên cứu tiếp tục với quy mô lớn hơn và đa dạng đối tượng. Kết hợp mô hình với chương trình giáo dục mầm non hiện hành. Xây dựng mạng lưới chia sẻ kinh nghiệm giữa các trường. Hợp tác quốc tế để cập nhật phương pháp giáo dục tiên tiến. Phát triển nguồn tài nguyên học tập phong phú cho giáo viên.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ ứng dụng mô hình reggio emilia vào giáo dục kỹ năng tiền đọc viết có ý nghĩa cho trẻ mg 4 5 tuổi

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về việc ứng dụng mô hình Reggio Emilia vào giáo dục kỹ năng tiền đọc viết có ý nghĩa cho trẻ MG 4 – 5 tuổi. Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tiền đọc viết cho trẻ MG 4 – 5 tuổi ở một số trường MN tại TP. Hồ Chí Minh. Chương 3: Ứng dụng mô hình Reggio Emilia vào giáo dục kỹ năng tiền đọc viết có ý nghĩa cho trẻ MG 4 – 5 tuổi.

- Phần 3: Phần kết luận và kiến nghị sư phạm. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG MÔ HÌNH REGGIO EMILIA VÀO GIÁO DỤC KỸ NĂNG TIỀN ĐỌC VIẾT CÓ Ý NGHĨA CHO TRẺ MẪU GIÁO 4 – 5 TUỔI 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở nước ngoài về giáo dục kỹ năng tiền đọc viết cho trẻ em Trong lịch sử giáo dục học trẻ em, việc nghiên cứu vấn đề cho trẻ làm quen với đọc viết chiếm vị trí đáng kể.

Chiều dài lịch sử nghiên cứu liên quan tới vấn đề này cho thấy sự phân biệt và kết nối giữa hai nhiệm vụ giáo dục phát triển tiền đọc - viết; đó là: - Nhiệm vụ giáo dục chuẩn bị những kỹ năng tiền đọc viết. - Nhiệm vụ giáo dục phát triển những kỹ năng đọc và viết. Liên quan đến hai vấn đề này phải kể đến các nghiên cứu sau đây: Những nghiên cứu vấn đề dạy đọc – viết ở trẻ em Quan điểm về sự cần thiết có giai đoạn sẵn sàng cho việc học đọc - viết Morphett & Washburne (1931) khẳng định 6.5 tuổi là thời điểm cho kết quả tốt nhất để trẻ học đọc, viết thực thụ. Vì ở độ tuổi này, bộ máy phát âm đã hoàn thiện, trẻ phát âm rõ ràng, chính xác hơn.

Hơn nữa hệ xương, hệ cơ, vận động tinh của trẻ phát triển; vốn từ, ngữ pháp tăng vọt; trẻ tích lũy được vốn sống, vốn kinh nghiệm. Nhìn chung, đặc điểm tâm sinh lý của trẻ phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho việc học chữ. Tương tự, King (1955), Green & Simmons (1962), Cartơ (1956) đều đưa ra quan điểm: trẻ em trước 6 tuổi không thể tập đọc vần thành thục vì thế không nên cho trẻ học đọc – viết trước khi học lớp Một. Gesell (1920 – 1950), tin rằng phát triển là kết quả của sự thuần thục, trẻ cần có thời gian để được trang bị kỹ năng cần thiết chuẩn bị cho việc đọc, người lớn phải cung cấp môi trường thuận lợi cho sự phát triển của trẻ.

Bằng cách người lớn hãy tạo ra một môi trường đầy ấn phẩm để trẻ có thể tắm mình trong “chữ viết”. Đó là một góc đọc sách hay một góc thư viện ở gia đình – trường mầm non. 9 Hall, Robvich & Ramig (1979) xác định 6 yếu tố ảnh hưởng đến khả năng học đọc viết của trẻ: thể lực, tri giác, nhận thức, xúc cảm, tình cảm, môi trường và kinh nghiệm. Trẻ phải sẵn sàng về thể chất để có vận động tinh cầm bút và điều khiển khi viết đường nét, về tri giác để có thể phân biệt chữ viết và âm thanh, sẵn sàng về nhận thức ngôn ngữ để có thể hiểu, nghe, nói thành thạo, có khả năng thích ứng với môi trường mới, đặc biệt là trẻ phải có những kinh nghiệm về đọc, viết.

Quan điểm này đã gây nên nhiều tranh cãi nhưng khái niệm về độ chuẩn bị đọc vẫn được sử dụng trong một thời gian dài và cho tới nay thì độ tuổi bắt đầu học đọc, viết chính thức ở trường phổ thông phổ biến nhất là 6. Quan điểm về “tiền đọc, viết” sớm Trái chiều với quan điểm trên đây, là quan điểm có thể và nên cho trẻ học đọc, viết sớm hơn 6 tuổi. Đọc, viết của trẻ mầm non được thể hiện tự do theo kinh nghiệm phù hợp và sự tương tác với người lớn. Clay cũng cho rằng khả năng học chữ thực thụ không chỉ là đọc hiểu đơn giản mà cần phải biết quy trình đọc, hiểu chức năng của chữ viết, biết sử dụng sách.

Cụ thể hơn, theo M. Clay, khái niệm tiền đọc, viết dùng để mô tả hành vi của trẻ khi chúng sử dụng sách và tài liệu, dụng cụ đọc, viết để bắt chước các hoạt động đọc và viết mặc dù trẻ thực sự không thể đọc, viết theo cách thông thường. Ilana Zeiler (1992) đã dẫn ra quan điểm của Shirley Brice - Heath rằng “biết đọc biết viết” là khi ký tự được đề cập tới bằng ý nghĩa. Đối với trẻ nhỏ, “biết đọc biết viết” bao hàm chữ viết, đọc, những hành động như đọc khi đang có sách trong tay.

Đồng ý với quan điểm này, Ilana Zeiler cho rằng giáo viên không dạy trẻ em thành người đọc, mà chính trẻ em “làm cho mình thành người đọc”, như vậy công việc của người lớn là làm những hành động mẫu cho việc đọc. Ilana Zeiler quan sát thấy rằng khi đứa trẻ bắt đầu phát triển thành người đọc (tác giả này nhấn mạnh để phân biệt: không phải học đọc, mà là “thành người đọc”) thì trẻ em sử dụng hai chiến lược khác nhau - đó là: (1) Trẻ bắt đầu nắm được ý nghĩa từ tranh ảnh trong sách hoặc từ sự lắng nghe người lớn đọc trang viết của 10 sách. Tức là, trẻ “đọc bằng cách nắm ý nghĩa của tranh ảnh” trước khi “đọc thực sự”, chính hình ảnh kể được cốt truyện cho trẻ. Trong chừng mực nào đó, trẻ em học được điều này: có sự khác biệt giữa trang chữ in với tranh ảnh, nhưng tranh ảnh lôi cuốn trẻ trước tiên và đem lại cho trẻ điểm tựa để hiểu nội dung truyện (2) Trẻ học chính thức về những thành phần ngôn ngữ, như chữ cái, âm tiết, âm tố, âm vị, … Phần lớn các nghiên cứu về giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ em trong cuối thế kỉ 20 trở về sau có xu hướng minh chứng rằng trẻ “được đọc” ở độ tuổi sớm sẽ thành “người đọc” tốt hơn – so với nhóm trẻ “được đọc” trễ hơn về độ tuổi.

Nhiều tác giả mạnh mẽ khẳng định rằng độ tuổi không có mối liên hệ lớn lao với khả năng đọc của trẻ em. Những cơ sở của năng lực ngôn ngữ ở trẻ em được họ xác định là kinh nghiệm của trẻ, lượng cơ hội được đọc, lượng cơ hội được chơi với sách và chữ viết, lượng cơ hội được “đóng giả vai người đọc” trong các quá trình hoạt động ngôn ngữ. Trong độ tuổi từ 3 đến 8, trẻ em có tốc độ khác nhau trong việc tiếp thu các hành vi đọc, viết và học đọc, viết bằng các cách rất khác nhau. Theo Leigh Rohde, những kỹ năng ban đầu về tiền đọc viết là những kiến thức và khả năng có liên quan tới bảng chữ cái, nhận thức về âm vị học, các biểu tượng ký mã và giao tiếp; chúng có quan hệ với nhau và ngữ cảnh có những tác động rất đáng kể để đảm bảo cho trẻ lĩnh hội được những kiến thức, kỹ năng sơ đẳng về tiền đọc viết.

Leigh Rohde phê pán thực trạng nhiều mô hình giáo dục tiền đọc viết thời bấy giờ chỉ tập trung vào những kỹ năng rời rạc, thiếu hệ thống, thậm chí bỏ qua vai trò tiềm năng của môi trường xung quanh (Leigh Rohde, 2015). Cả hai tác giả Durkin & Clay đều cho rằng: đọc, viết không phải là việc đọc và giải mã một cách đơn giản mà bao gồm việc hiểu chức năng của chữ viết, quy trình đọc từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, biết cách sử dụng sách. Quan điểm của họ đã gây ảnh hưởng rộng đến hoạt động dạy trẻ làm quen chữ viết từ năm 1980 đến 1990 dẫn đến sự xuất hiện của quan điểm đọc, viết tự phát. Cách tiếp cận theo quan điểm này là hướng dẫn trẻ đọc, viết không thực hiện một cách trực tiếp, không bắt buộc theo trình tự cứng nhắc mà phải tiếp cận một cách tự nhiên thông qua các tài liệu đọc, viết có ý nghĩa cho trẻ.

11 Các nghiên cứu về việc viết chữ sáng tạo (invented spelling) như Read, (1975), Bissex (1980) cho rằng trẻ mầm non thực hiện hoạt động viết trước khi được học đọc, học viết thực sự. Chữ viết sáng tạo không giống với hệ thống chữ viết được tiêu chuẩn hóa mà là kết quả của việc trẻ thu nhập kiến thức về chữ viết mà trẻ được biết trong môi trường xung quanh và trẻ nỗ lực để viết theo kinh nghiệm có được của trẻ. Từ những quan điểm trên có thể chứng minh được rằng: Ngay từ khi còn nhỏ, khả năng đọc viết của trẻ đã được phát triển nhờ trẻ được tiếp xúc với môi trường chữ viết xung quanh. Khả năng đọc viết của trẻ bao gồm cả hành động trẻ cầm sách và giả vờ đọc, trẻ vẽ tranh hay viết nguệch ngoạc.

Hành động giả vờ đọc sách là việc trẻ biết trong sách có nội dung có ý nghĩa với trẻ và trẻ muốn bắt chước hành động đọc sách của người lớn. Tuy không biết chữ nhưng trẻ muốn thể hiện ý nghĩa bằng cách viết nguệch ngoạc. Tất cả những hành động này đều cho thấy trẻ mầm non có khả năng đọc viết. Quan điểm về việc học đọc viết của trẻ mầm non hiện nay Trong suốt những năm 1980 đến năm 1990, quan điểm đọc, viết tự phát được coi là quan điểm tiêu biểu để giải thích sự phát triển kỹ năng đọc, viết của trẻ mầm non.

Nhưng câu hỏi lớn được đặt ra cho tới nay, là: hướng tiếp cận nào, những phương pháp (hiểu theo nghĩa rộng) nào phù hợp với trẻ mầm non? Chúng ta tìm hiểu một số hướng tiếp cận giáo dục đọc viết cho trẻ trước 6 tuổi. Hướng tiếp cận ngôn ngữ trọng tâm phát âm Các nhà nghiên cứu này đề ra mục đích phát triển năng lực giải mã (đọc) và mã hóa (viết) một cách chính xác ở người học; đặt trọng tâm ở nguyên tắc hướng dẫn trẻ làm quen từ âm vị đến chữ cái, từ, câu và câu chuyện. Cách tiếp cận này cho thấy trọng tâm là phát âm, coi trọng việc nắm cấu trúc của ngôn ngữ. Hướng tiếp cận ngôn ngữ trọn vẹn Mục đích của cách tiếp cận ngôn ngữ trọn vẹn là khơi gợi động cơ đọc, viết của trẻ nhằm giúp trẻ nắm vững và truyền tải ý nghĩa của nội dung được đọc.

Người dạy ít chú ý vào các lỗi của trẻ. Cách tiếp cận này có những đặc điểm nổi trội sau đây: (1) đơn vị cơ bản của ngôn ngữ là “ý nghĩa”; (2) không dạy tách rời bốn kĩ 12 năng nghe, nói, đọc, viết mà dạy tổng thể cả bốn kĩ năng; (3) để trẻ phát triển toàn diện, lĩnh vực phát triển ngôn ngữ phải được dạy tích hợp với tất cả các lĩnh vực phát triển khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ