Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương 2, tác giả thực hiện khảo lược các lý thuyết nền tảng cùng các nghiên cứu đi trước nhằm đưa ra một bức tranh về lý thuyết và thực tiễn trong chủ đề nghiên cứu. Từ đó, tác giả chỉ ra những khe hở trong nghiên cứu để làm nền tảng cho việc thực hiện nghiên cứu này.1 Các định nghĩa nền tảng 2.1 Các bên liên quan Theo Mitroff (1983) các bên liên quan (stakeholders) là tất cả những cá nhân, tổ chức, nhóm có lợi ích liên quan bao hàm cả bên trong và bên ngoài của tổ chức. Nói cách khác, tất cả các đối tượng ảnh hưởng hay chịu ảnh hưởng từ các hành vi, trạng thái và chính sách của tổ chức. Theo nghiên cứu của Freeman (1984) về quản trị chiến lược của một doanh nghiệp, các bên liên quan là bất kỳ tổ chức và cá nhân ảnh hưởng hay chịu ảnh hưởng từ những mục tiêu của tổ chức đó.
Từ đây, các nghiên cứu sử dụng cụm từ “stakeholders” đã được mở rộng phổ biến trong nghiên cứu cho cả trong khu vực tư và công (Shannon, 2014). Trong nghiên cứu của Bryson (2003) xác định, các bên có liên quan là bất kỳ cá nhân, nhóm, tổ chức mà có liên quan đến mối quan tâm của tổ chức đó hoặc nguồn lực hay đầu ra hay chịu ảnh hưởng bởi các đầu ra của tổ chức. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng định nghĩa của Bryson (2003) về các bên liên quan bao gồm bất kỳ cá nhân, tổ chức có mối quan tâm, lợi ích hay liên quan đến các chính sách của khu vực nhà nước.2 Chính sách công Chính sách công là hành động (hoặc không hành động) của chính quyền, cơ quan nhà nước đối với các vấn đề trong xã hội được giới hạn trong phạm vi ảnh hưởng của chính quyền hay quốc gia đó (Nguyễn Xuân Thành, 2015). Vấn đề chính sách công là các nhu cầu, giá trị và cơ hội cải thiện mà chưa được thực hiện đang xảy ra trong thực tế (Dunn, 1994).
Theo đó, các vấn đề này khi xuất hiện hay tồn tại đòi hỏi phải có sự can thiệp của nhà nước theo các hướng: can thiệp vào thị trường, loại bỏ can thiệp vào thị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 trường, không làm gì để tự thị trường điều chỉnh. Dù như thế nào đi nữa thì mỗi khi xảy ra một vấn đề chính sách công luôn đòi hỏi quyết định của nhà nước để giúp tối ưu phúc lợi của toàn xã hội. Hiệu quả chính sách là cụm từ được hiểu dưới góc độ của công dân trong một quốc gia. Theo Craig, Niemi, & Silver (1990), hiệu quả chính sách được phân tách thành hai thành phân riêng biệt: hiệu lực nội tại và hiệu lực ngoại lai.
Trong đó, hiệu lực nội tại là niềm tin của các cá nhân về hiểu biết các vấn đề chính sách; hiệu lực ngoại lai là niềm tin về hành động của chính quyền đáp ứng được các nhu cầu của công dân. Phản ứng chính sách công là các hành động của khu vực công trước các vấn đề chính sách công như: phát ngôn (xác nhận hay bác bỏ, .), đề ra chính sách, văn bản hay thực thi trên thực tế các hành động của chính quyền và khu vực công.3 Mạng xã hội Mạng xã hội là một kiểu website cho phép các cá nhân kết nối và chia sẻ thông tin với nhau. Theo đó, dựa trên một cấu trúc mà mỗi cá nhân có thể công khai hay bán công khai các thông tin của bản thân, đồng thời có thể xem hay lướt qua các thông tin của các cá nhân khác thông qua hệ thống kết nối giữa các cá nhân (Boyd & Ellison, 2007). Hơn thế nữa, Tredinnick (2006) định nghĩa rằng mạng xã hội là những trang web có sự tham gia dẫn dắt của người dùng và các nội dung được người dùng tạo ra.
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng cụm từ ‘thảo luận trên mạng xã hội” để biểu thị cho các hành vi đọc (xem và like trên Facebook), thảo luận, chia sẻ, trao đổi ý kiến giữa các cá nhân trên mạng xã hội Facebook.2 Các lý thuyết nền tảng 2.1 Lý thuyết về các bên liên quan trong chính sách công Lý thuyết về các bên liên quan được Freeman (1984) phát triển từ khái niệm về “ các bên liên quan” trong phân tích về chiến lược quản trị của doanh nghiệp. Theo Heath & Norman (2004), có ít nhất 9 lý thuyết phân nhánh từ lý thuyết về các bên liên quan áp dụng để phân tích, giải thích cho từng lĩnh vực khác nhau trong quản trị doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Từ nghiên cứu trong quản trị chiến lược doanh nghiệp, lý thuyết các bên liên quan mở rộng sang lĩnh vực chính sách công và quản trị nhà nước. Theo đó, việc áp dụng lý thuyết về các bên liên quan để phân tích, giải thích nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau trong các vấn đề chính sách công.
Theo Vining & Weimer (2010), chính sách công được phân tích theo xu hướng phân tích các bên liên quan bao hàm cả những người ra quyết định, các nhóm lợi ích liên quan, nhóm hưởng lợi, những người phải chi trả và cả các thế hệ tương lai chịu ảnh hưởng.2 Các bên liên quan trong quản trị nhà nước Lý thuyết các bên liên quan trong quản trị nhà nước tập trung vào việc xác định và phân tích các mối liên hệ giữa các cá nhân, tổ chức ảnh hưởng đến quản trị nhà nước trong một quốc gia. Theo đó, đối với các vấn đề chính sách công có 8 nhân tố chính tương tác với nhau trong quản trị nhà nước (hình 2.1) bao gồm: các cá nhân (công dân), các tổ chức cộng đồng và tương tự, các tổ chức phi lợi nhuận (NGOs), giới kinh doanh, truyền thông, các cấp chính quyền (public agencies), các chính khách được bầu cử, các tổ chức thương mại. Các bên liên quan này được chia là 3 nhóm chủ yếu: nhà nước, thị trường và xã hội dân sự (Bovaird & Löffler, 2009).1: Mối quan hệ tương tác giữa các bên liên quan trong quản trị nhà nước Chính quyền Tổ chức Truyền thương mại thông Vấn đề Đại biểu NGOs chính sách dân cử công Giới kinh Cộng đồng doanh Công dân Nguồn: Tác giả tổng hợp, sửa đổi từ Bovaird & Löffler (2009) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Có 3 mối quan hệ chính định hướng mối liên hệ, tương tác lẫn nhau không chỉ bao gồm việc hợp tác mà còn là cạnh tranh và xung đột giữa các bên liên quan. Các mối quan hệ trong mạng lưới này thông thường được tổ chức theo 3 dạng: thứ bậc, thị trường và cộng đồng.
Trong đó, các bên liên quan thuộc khu vực nhà nước được tổ chức theo dạng thứ bậc, các doanh nghiệp và khu vực kinh doanh thường hoạt động ở thị trường và các cộng đồng được tổ chức rất đa dạng. Mỗi một bên liên quan trong mạng lưới quản trị nhà nước đều tương tác với nhau trong các vấn đề công, không thể có một nhân tố nào đủ quyền lực và khả năng đạt đến mục tiêu trong các vấn đề đó. Theo hàm ý đó, mỗi một vấn đề công đều được giải quyết thông qua quá trình tương tác, phân phối quyền lực, khả năng và sự tương tác của các bên liên quan trong mạng lưới.3 Các bên liên quan trong quản trị nhà nước tại Việt Nam Theo Phạm Duy Nghĩa (2015), các bên liên quan trong quản trị nhà nước bao gồm: người dân, chính quyền, các cơ quan dân cử, truyền thông, xã hội dân sự, hiệp hội và các bên liên quan khác. Trong đó, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân và được nhân dân ủy quyền cho các cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Chính vì vậy, người dân có thể thông qua sự tương tác với các cơ quan này đi cùng với các bên liên quan khác để thực hiện các quyền lực của mình. Cụ thể: Thứ nhất, thông qua bầu cử, người dân lựa chọn các đại biểu vào các cơ quan dân cử, điều này giúp phản ánh các quan điểm, nguyện vọng của mình đối với các chính sách công đưa ra. Đối với các nền dân chủ có sự cạnh tranh giữa các chính trị gia thì đây được coi là một công cụ quan trọng thể hiện tốt nhất quyền lực của người dân trong việc thiết kế, thực thi các chính sách công. Thứ hai, thông qua các buổi tiếp xúc cử tri, người dân trực tiếp đưa ra các kiến nghị hay phản ánh các vấn đề đến các đại biểu dân cử.
Thứ ba, thông qua các cơ quan truyền thông, báo chí tạo nên áp lực buộc các cơ quan phải điều chỉnh, thay đổi hay hủy bỏ chính sách cũng như tạo sức mạnh truyền thông để ủng hộ các chính sách phù hợp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Thứ tư, bằng các hình thức tập hợp lực lượng để biểu tình, kiến nghị tạo ra các dư luận xã hội nhằm tác động lên các cơ quan hành pháp và áp lực để thay đổi hay điều chỉnh các chính sách không phù hợp. Cuối cùng, người dân có thể thông qua các tòa án dân sự hay tòa án hành chính để bảo vệ các lợi ích hợp pháp của công dân và duy trì công lý trong xã hội.3 Lược khảo các nghiên cứu đi trước về ảnh hưởng của mạng xã hội lên các bên liên quan trong quản trị nhà nước 2.1 Nghiên cứu về ảnh hưởng của Internet lên môi trường chính sách và quản trị nhà nước Kenski & Stroud (2006) sử dụng cơ sở dữ liệu từ cuộc khảo sát bầu cử quốc gia Mỹ3 năm 2000 để tìm hiểu mối quan hệ của việc tiếp cận internet và các xu hướng thông tin trên mạng về cuộc bầu cử đến sự tham gia của người dân, hiểu quả chính sách và kiến thức của người dân đối với các vấn đề chính sách. Bằng kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả khẳng định, Internet đã trở thành một kênh thông tin tiếp cận và tạo áp lực lên các chính sách của chính quyền giúp tăng cường hiệu quả chính sách, kiến thức và sự tham gia của người dân vào chính sách công.