đặt vấn đề, mục tiêu, nội dung, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu, bố cục trình bày. Chương 2 trình bày cơ sở lý luận. Giới thiệu một số nghiên cứu có liên quan đến vấn đề tiêu thụ RAT đã và đang thực hiện, các lý thuyết được nêu gồm thông tin bất cân xứng, lý thuyết chuỗi giá trị. Chương 3 phân tích thực trạng sản xuất, kinh doanh và quản lý rau và rau an toàn tại TP.
HCM – Nhận thức hành vi người tiêu dùng. Chương 4 gợi ý chính sách. Kết luận và kiến nghị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Giới thiệu một số nghiên cứu đã và đang thực hiện Do giới hạn trong việc cập nhật các nghiên cứu nên tác giả đã không thống kê được đầy đủ các công trình nghiên cứu có liên quan đến việc tiêu thụ RAT tại TP.
Năm 2005, Công ty nghiên cứu thị trường Axis đã nghiên cứu Chuỗi giá trị RAT TP. HCM với sơ đồ chuỗi và vai trò của các tác nhân trong chuỗi. Ngoài ra, tác giả được biết có một số công trình nghiên cứu liên quan đến việc tiêu thụ RAT đang thực hiện. Đề tài Mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ RAT trên địa bàn TP.
HCM nhằm nghiên cứu các hình thức liên kết ngang và liên kết dọc trong sản xuất và tiêu thụ RAT trên địa bàn TP. HCM được Th.S Từ Minh Thiện thực hiện, thời gian kết thúc dự kiến là tháng 12 năm 2010. Đề tài Nghiên cứu đề xuất cơ chế, chính sách, tổ chức sản xuất, chế biến, bảo quản và tiêu thụ RAT do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam chủ trì, nhằm đề xuất cơ chế, chính sách để mở rộng qui mô sản xuất, tiêu thụ RAT. Đề tài này dự kiến đến tháng 12 năm 2010 cũng sẽ hoàn thành.
Tuy không hoàn toàn kế thừa và phát triển các kết quả từ các công trình nghiên cứu đã có nhưng đề tài nghiên cứu này kế thừa nhiều kết quả các công trình nghiên cứu khác có liên quan, tham khảo các kết quả điều tra, khảo sát của các cơ quan nhà nước như Sở NN của TP. HCM và các đơn vị trực thuộc của nó.1 Thông tin bất cân xứng Thông tin bất cân xứng là tình trạng trong một giao dịch, một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn so với bên còn lại. Khi đó, giá cả giao dịch không phải là giá cân bằng của thị trường mà có thể quá thấp hoặc quá cao. Thông tin bất cân xứng là một thất bại của thị trường vì nó gây ra hệ quả là sự lựa chọn ngược (lựa chọn bất lợi) và rủi ro đạo đức (tâm lý ỷ lại).
Lựa chọn ngược là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 hậu quả của thông tin bất cân xứng trước khi giao dịch xảy ra. Rủi ro đạo đức hay tâm lý ỷ lại là tình trạng cá nhân hay tổ chức không còn động cơ để cố gắng hay hành động một cách hợp lý như trước khi giao dịch xảy ra, là hậu quả của thông tin bất cân xứng sau khi giao dịch đã xảy ra. Giải pháp chính để giải quyết hệ quả của tình trạng thông tin bất cân xứng là làm giảm đi sự bất cân xứng về thông tin cho các bên tham gia giao dịch. Phía tư nhân lẫn phía nhà nước đều đưa ra giải pháp theo từng khả năng của phía mình.
Giải pháp tư nhân là phía người bán cần phải phát tín hiệu về chất lượng sản phẩm, uy tín thương hiệu… còn phía người mua thì sàng lọc thông tin và thử nghiệm, lựa chọn. Giải pháp của chính phủ dựa vào cơ chế giám sát, được áp dụng nhằm mục đích kiểm soát tâm lý ỷ lại, cơ chế bao gồm giám sát trực tiếp (như cấp giấy phép chứng nhận trước hoạt động) và giám sát gián tiếp (như kiểm tra, kiểm soát trong quá trình hoạt động). Thông qua quá trình thanh tra, kiểm tra thường xuyên, đơn vị chuyên quản của nhà nước thanh tra, kiểm soát và có hình thức chế tài thích đáng [8]. Với thị trường RAT, có sự bất cân xứng thông tin giữa người bán và người mua, giữa người sản xuất, kinh doanh và cơ quan quản lý nhà nước.2 Lý thuyết chuỗi giá trị [11] Chuỗi giá trị nói đến cả loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến phân phối tới NTD cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng.
Một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động để tạo ra tối đa giá trị trong toàn chuỗi. Theo nghĩa hẹp, một chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt động thực hiện trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định. Các hoạt động này có thể gồm có giai đoạn xây dựng và thiết kế, quá trình mua vật tư đầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi… Tất cả những hoạt động này tạo thành một LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 “chuỗi” kết nối người sản xuất với NTD. Mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối cùng.
Cách tiếp cận theo nghĩa rộng không xem xét các hoạt động do một doanh nghiệp duy nhất tiến hành mà nó xem xét cả các mối liên kết ngược và xuôi cho đến khi nguyên liệu thô được sản xuất được kết nối với NTD cuối cùng. Các công cụ phân tích chuỗi giá trị gồm: Công cụ 1 – Lựa chọn các chuỗi giá trị ưu tiên để phân tích Công cụ 2 – Lập sơ đồ chuỗi giá trị Công cụ 3 – Chi phí và lợi nhuận Công cụ 4 – Phân tích công nghệ, kiến thức và nâng cấp Công cụ 5 – Phân tích các thu nhập trong chuỗi giá trị Công cụ 6 – Phân tích việc làm trong chuỗi giá trị Công cụ 7 – Quản trị và dịch vụ Công cụ 8 – Sự liên kết Do giới hạn đề tài nên tác giả sẽ tập trung vào phân tích quản trị của nhà nước và liên kết của nông dân – người mua sỉ- siêu thị trong hai công cụ 7 và 8. Công cụ 7 – Quản trị và dịch vụ Phân tích quản trị và dịch vụ nhằm điều tra các quy tắc hoạt động trong chuỗi và đánh giá quyền lực giữa những người tham gia, từ đó có thể xác định đòn bẩy can thiệp nhằm tăng hiệu quả chung của chuỗi giá trị. Phân tích nhằm trả lời các câu hỏi sau: - Những nguyên tắc chính thức và không chính thức quy định hành động của người tham gia trong chuỗi? - Ai lập ra nguyên tắc? - Ai giám sát sự thi hành các nguyên tắc này? Cơ chế thưởng, phạt? - Tại sao cần nguyên tắc này? Lợi thế và bất lợi của những nguyên tắc hiện thời? LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 - Những hệ thống hiệu lực để hỗ trợ những người tham gia đáp ứng được những yêu cầu và đòi hỏi của chuỗi giá trị? Công cụ 8 – Sự liên kết Phân tích mối liên kết ngoài việc xác định tổ chức và người tham gia liên kết còn để xác định nguyên nhân và lợi ích từ các liên kết này.
Phân tích nhằm trả lời các câu hỏi sau: - Những liên kết có tồn tại? Mức độ quan trọng của liên kết? - Số lượng người tham gia? - Tính thường xuyên và mức độ chính thức? - Nguyên nhân của sự liên kết và không liên kết? - Lợi ích và chi phí kinh tham gia liên kết? Mức độ tin tưởng? - Thời gian tồn tại của liên kết và tính chính thức? - Tỷ lệ mở rộng liên kết theo thời gian? LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SẢN XUẤT, KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ RAU VÀ RAU AN TOÀN TẠI TP.1 Thực trạng sản xuất rau và RAT tại TP. HCM Sản xuất RAT của TP. HCM tập trung chủ yếu ở các quận, huyện ngoại thành như Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn, Q. 12… Đa phần đây là những vùng sản xuất rau truyền thống và đất nông nghiệp trồng lúa chuyển đổi sang.1 Quy hoạch vùng canh tác rau an toàn Tuy quá trình đô thị hóa làm nhiều diện tích đất trồng rau bị mất đi nhưng diện tích đất trồng RAT từ năm 2006 đến nay ngày càng tăng nhờ vào đất nông nghiệp trồng lúa chuyển đổi sang.
Tính đến cuối năm 2009, diện tích canh tác rau trên địa bàn TP.000 ha gieo trồng), diện tích canh tác đã được lấy mẫu đất và nước để thẩm định điều kiện sản xuất RAT là 2.791,12 ha, trong đó diện tích đủ điều kiện sản xuất RAT là 2.000 Diện tích (ha) Kế hoạch 5.000 Thực tế Đã chứng nhận đủ điều kiện SX an toàn 4.1 Diện tích canh tác rau qua các năm của TP. HCM “Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn TP. HCM, 2009 [17] và Ủy ban Nhân dân TP. HCM, 2006 [25]” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Việc đánh giá chất lượng đất và nước tại tất cả các xã phường chỉ được diễn ra khi xã phường đó có diện tích canh tác rau từ 10 ha trở lên [17].
Do vậy, tỷ lệ diện tích đủ điều kiện sản xuất RAT thực tế sẽ có sự chênh lệch theo chiều hướng giảm do hầu như với các xã phường có diện tích sản xuất nhỏ nằm trong các khu dân cư. Tuy vậy, số diện tích đất không đủ điều kiện trồng RAT hoặc quá nhỏ nằm xen trong khu dân cư vẫn được người dân trồng rau. Đây là một trong những nguyên nhân các phương tiện truyền thông phản ánh. Điều này đã tác động không nhỏ đến niềm tin của NTD khi biết rằng vẫn có một lượng rau không an toàn được đưa vào tiêu thụ.
Theo kế hoạch Chương trình RAT của TP giai đoạn 2006 – 2010, diện tích canh tác RAT đủ điều kiện sản xuất an toàn hiện nay chỉ đạt 48,16%. Nhìn vào hình 3.1 ta thấy diện tích trồng RAT theo kế hoạch từng năm chương trình RAT của TP được đề ra theo tỷ lệ nhất định mà không theo khảo sát và ước lượng thực tế. Hiện nay, TP chưa có quy hoạch cụ thể vùng đất trồng RAT nên nhiều HTX nằm trong khu dân cư không dám đầu tư phát triển sản xuất.2 Chủng loại, năng suất, sản lượng và cơ cấu mùa vụ Với 6 nhóm chủng loại chính gồm rau ăn lá ngắn ngày, rau ăn lá dài ngày, rau ăn củ quả ngắn ngày, rau ăn củ quả dài ngày, rau muống nước và rau gia vị, năng suất rau bình quân đạt 22 tấn/ha [18].