Chương 1 trình bày tổng quan về vấn đề nghiên cứu chính của luận án, bao gồm: mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án, kết cấu chung của luận án. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Phần đầu chương 2 trình bày toàn bộ cơ sở lý thuyết về các vấn đề: ĐDH, cạnh tranh và ổn định ngân hàng. Luận án cũng lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của ĐDH đến ổn định ngân hàng, của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng và tác động của ĐDH và cạnh tranh đến ổn định ngân hàng. Phần cuối chương 2, dựa vào tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước, tác giả rút ra khe hở nghiên cứu.
Từ đó làm cơ sở tìm kiếm và lựa chọn phương pháp nghiên cứu trên dữ liệu là các NHTM Việt Nam giai đoạn 2006 – 2017. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Dựa trên vấn đề nghiên cứu được xây dựng ở chương 2, nội dung chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu phù hợp để đo lường tác động của ĐDH và cạnh tranh đến ổn định ngân hàng của hệ thống NHTM Việt Nam. Cụ thể các bước đi từ việc xây dựng mô hình nghiên cứu, mô tả các biến độc lập và biến phụ thuộc đến thu thập và xử lý cơ sở dữ liệu thứ cấp của các NHTM Việt Nam. Cuối cùng luận án thực hiện các ước lượng và kiểm định cần thiết cho các hệ số hồi quy trong các mô hình đó.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Sau khi thực hiện hồi quy và kiểm định hệ số hồi quy của biến độc lập ở chương 3, chương 4 đi vào trình bày kết quả hồi quy và các kiểm định chi tiết của các mô hình sử dụng để đo lường tác động của ĐDH và cạnh tranh đến ổn định ngân hàng. Phần cuối của chương tập trung thảo luận về dấu các hệ số hồi quy phản ánh tương quan một chiều của ĐDH và cạnh tranh đến ổn định ngân hàng của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu 2006 – 2017. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH Với kết quả nghiên cứu đáng tin cậy được thực hiện ở chương 3 và chương 4, nội dung chương 5 là toàn bộ các gợi ý về mặt chính sách của tác giả liên quan đến tác động của ĐDH và cạnh tranh đến ổn định ngân hàng nhằm giúp cho các nhà hoạch định chính sách và quản trị ngân hàng xây dựng những chiến lược trong tương lai góp phần thúc đẩy hệ thống NHTM Việt Nam phát triển bền vững và ổn định hơn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Nội dung chương 2 trình bày các lý thuyết kinh tế về ổn định ngân hàng, lý thuyết về cạnh tranh và ĐDH trong lĩnh vực ngân hàng.
Trên cơ sở tiếp cận nhiều quan điểm kinh tế học về các vấn đề nghiên cứu, luận án phân tích, đánh giá và lựa chọn các chỉ tiêu đo lường mức độ ổn định ngân hàng, sức cạnh tranh và ĐDH thu nhập ngân hàng cho hệ thống NHTM Việt Nam. Ngoài ra, phần cuối chương 2 lược khảo các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của ĐDH và cạnh tranh đến ổn định ngân hàng. Từ đó luận án rút ra khe hở nghiên cứu làm cơ sở xây dựng phương pháp nghiên cứu để hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đề ra.1 Lý thuyết về ổn định ngân hàng Ổn định ngân hàng luôn được xem là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong quá trình hoạch định các chiến lược kinh tế về tài chính. Lý thuyết ổn định ngân hàng được xem xét trên khía cạnh ổn định tài chính trong hoạt động ngân hàng, bắt nguồn từ nỗ lực đưa ngân hàng thoát khỏi tình trạng mất ổn định tài chính mà nguyên nhân là từ bất ổn của nền kinh tế dẫn đến bất ổn của hệ thống tài chính (HTTC) gây ra.
Xuất phát từ quá trình hình thành, diễn biến và phát triển các lý thuyết về bất ổn tài chính và ổn định tài chính của các nhà kinh tế học như John Maynard Keynes, Paul Samuelson, Milton Friedman, Fried von Hayek,… trong suốt thời gian qua, có thể thấy trung tâm của các chính sách đảm bảo an toàn cho hoạt động HTTC là các định chế tài chính trung gian, nổi bật là NHTM. Nội dung chủ yếu của các chính sách tập trung vào kết quả sự tương tác giữa NHTM với thị trường tài chính và toàn bộ nền kinh tế (IMF, 2007). Hầu hết các nghiên cứu về ổn định tài chính ngân hàng được tìm thấy đều đánh giá “bất ổn tài chính” như là một cách tiếp cận để đánh giá “ổn định tài chính". Từ đó, nghiên cứu tập trung vào bất ổn tài chính là trạng thái ngược lại với ổn định tài chính.1 Lý thuyết về ổn định tài chính Xuất phát từ các nghiên cứu về bất ổn và ổn định kinh tế của các trường phái kinh tế học tiêu biểu, các nghiên cứu về ổn định tài chính giai đoạn sau đều bắt nguồn từ quy luật chung của nền kinh tế khi trải qua các chu kỳ kinh tế khác nhau LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 từ trạng thái đang ổn định chuyển sang trạng thái khủng hoảng và gây ra bất ổn, từ đó dẫn đến sự bất ổn cho HTTC.
Nội dung các nghiên cứu này tập trung vào việc tìm hiểu nguyên nhân gây ra các cuộc khủng hoảng tài chính, cơ chế hoạt động của nền kinh tế, của các doanh nghiệp mà ở đó tình trạng bất ổn tài chính phát sinh và gây ra những hậu quả vô cùng to lớn trên phạm vi rộng, ảnh hưởng sâu sắc đến hầu hết các lĩnh vực kinh doanh khác. Từ đó, các nhà kinh tế học đưa ra những giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn và khắc phục khủng hoảng tài chính, đưa các doanh nghiệp và nền kinh tế vào quỹ đạo hoạt động ngày càng ổn định hơn. Nhìn vào cuộc tranh luận trong các học thuyết KTVM về bất ổn trong nền kinh tế, có thể thấy nổi lên nhiều quan điểm về bất ổn tài chính xuất phát từ các học thuyết kinh tế: Lý thuyết bất ổn tài chính của trường phái Trọng tiền: Theo lý thuyết về cung tiền của trường phái Trọng tiền cho rằng bất ổn tài chính phát sinh do sự bất ổn về tiền tệ. Friedman và Schwartz (1963) là hai nhà kinh tế học đầu tiên đưa ra quan điểm cho rằng bất ổn tài chính không có khả năng phát sinh nếu như không có sự gián đoạn về cung tiền tệ.
Theo quan điểm này, nguyên nhân cơ bản của bất ổn tài chính bắt nguồn từ CSTT. Những sai lầm trong thực thi CSTT ảnh hưởng đến cung tiền, từ đó gây ra bất ổn tài chính. Schwartz (1986) nhận định bất ổn tài chính thường đi kèm với sự sụt giảm đáng kể trong cung tiền của nền kinh tế. Tuy nhiên theo phân tích của Gertler (1988), quan điểm của Friedman và Scgwartz (1963) đã không đề cập các yếu tố ngoài cung tiền và CSTT cũng có ảnh hưởng làm HTTC bất ổn.
Trong đó, đặc biệt là vai trò của các trung gian tài chính là yếu tố quan trọng chi phối các hoạt động tài chính của nền kinh tế. Ủng hộ quan điểm gây ra bất ổn tài chính xuất phát từ CSTT. Kế thừa lý thuyết trò chơi, nghiên cứu của Williamson (1987), Greenwald và Atiglitz (1991) cũng cho thấy chính những quyết định trong tình trạng không chắc chắn của các tổ chức tài chính (TCTC) trung gian có thể tạo ra sự bất ổn trong chính tổ chức. Trong khi nền kinh tế phát triển năng động, một số loại tài sản tài chính có biến động giá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 mạnh do chính sách giá của trung gian tài chính đã gây ra những đợt lạm phát, nguyên nhân của bất ổn cho HTTC.
Lý thuyết bất ổn tài chính của trường phái Hậu Keynes: Trong những năm về sau, tài liệu nghiên cứu về tài chính được khám phá đã bắt đầu cung cấp nền tảng kinh tế vi mô vững chắc hơn cho các hiện tượng quan sát được về bất ổn tài chính (Gertler, 1988). Tiêu biểu là lý thuyết về bất ổn tài chính được trình bày theo lý thuyết mất ổn định tài chính (Financial instability Hypothesis) của Hyman P. Ông tiếp tục phát triển mô hình bất ổn tài chính dựa trên nền tảng những lý thuyết của Keynes và HTTC, nạn đầu cơ và “tinh thần động vật” (animal spirit). Lý thuyết này cho rằng bất ổn tài chính mang tính chu kỳ do sự xuất hiện của các đợt khủng hoảng tài chính định kỳ gây ra cú sốc và các hành vi sai lầm của nhà đầu tư.
Minsky (1977) đưa ra khái niệm về “Khoảnh khắc Minsky - Minsky moment”, tức là thời điểm nền kinh tế chuyển đổi từ trạng thái đang ổn định sang trạng thái khủng hoảng đối với HTTC, dựa trên ý tưởng về “Sự ổn định bất ổn – Stability is unstable”. Khoảnh khắc Minsky là kết quả của ba giai đoạn mà nền kinh tế trải qua và được mô tả tóm tắt thông qua bảng 2. Cụ thể như sau: Giai đoạn 1: Nền kinh tế đang dần phục hồi sau một cú sốc hay giai đoạn khủng hoảng trước đó và bắt đầu phát triển ổn định hơn. Các nhà đầu tư đã có sự phán đoán và đánh giá lạc quan đối với thị trường.
Đây là cơ sở nền tảng để bắt đầu việc đầu tư vào các lĩnh vực được đánh giá sẽ mang lại nhiều cơ hội lợi nhuận. Giai đoạn 2: Các nhà đầu tư bắt đầu mở rộng phạm vi và quy mô đầu tư của mình. Nhiều nhà đầu tư đồng thời tham gia vào cùng lĩnh vực và mỗi nhà đầu tư cũng mở rộng danh mục sang nhiều lĩnh vực khác. Để đáp ứng đủ vốn tài trợ cho các nhu cầu đầu tư, việc đi vay trở nên tất yếu.
Khi đó, khả năng cho vay của các NHTM được gia tăng, rủi ro cao hơn đánh đổi với kỳ vọng về lãi suất cao hơn. Thậm chí hệ quả có thể tạo ra bong bóng giả làm cho lợi nhuận thực tế giảm đáng kể, các nhà đầu tư rơi vào tình trạng cầm cự, chỉ trả lãi vay, vốn gốc chưa có khả năng và cần thêm thời gian để thu hồi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Giai đoạn 3: Bong bóng tài chính vỡ kéo theo nền kinh tế rơi vào khủng hoảng. Các phương án tài trợ vốn lúc này rất hạn chế, thậm chí các NHTM ngừng cho vay.
Các nhà đầu tư buộc phải bán tháo tài sản để nhanh chóng rút ra khỏi lĩnh vực đầu tư của mình.